Diễn đàn

You must be logged in to post Login Register

Search 
Search Forums:


 




Phân tích kỹ thuật
Xem bài viết hoàn chỉnh

UserPost

5:38 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

1

Tôi có nên mua hôm nay? Giá sẽ là bao nhiêu vào ngày mai, tuần sau hoặc năm sau? Nếu chúng ta đã biết câu trả lời của những câu hỏi có vẻ đơn giản này thì liệu việc đầu tư có khó không? Chao ôi, nếu bạn đọc cuốn sách này với hy vọng rằng phân tích kỹ thuật sẽ trả lời những câu hỏi này thì tôi e rằng bạn sẽ sớm bị thất vọng - nó không làm được. Tuy nhiên nếu bạn đọc cuốn sách này với hy vọng phân tích kỹ thuật có thể cải thiện việc đầu tư của bạn, thì tôi có tin tốt lành - nó sẽ làm được.

Lịch sử

Thuật ngữ “phân tích kỹ thuật” nghe có vẻ khó hiểu khi tìm hiểu những khái niệm cơ bản về đầu tư. Phân tích kỹ thuật đơn giản là việc nghiên cứu giá cả với biểu đồ là công cụ chính.

Gốc rễ của phân tích kỹ thuật hiện đại bắt nguồn từ Thuyết Dow, được Charles Dow phát triển khoảng năm 1900. Dù bắt nguồn trực tiếp hay gián tiếp từ thuyết Dow, phân tích kỹ thuật vẫn bao gồm những vấn đề …


Xem bài viết hoàn chỉnh

5:39 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

2

Các trường giá

Phân tích kỹ thuật được dựa trên hầu như toàn bộ việc phân tích giá và khối lượng. Các trường định nghĩa giá và khối lượng của chứng khoán được giải thích dưới đây:

Open: Đây là mức giá của lần giao dịch đầu tiên trong một thời kỳ (ví dụ: lần giao dịch đầu tiên trong ngày). Khi phân tích các dữ liệu hàng ngày giá Open đặc biệt quan trọng vì nó là mức giá nhất trí sau khi tất cả các bên quan tâm có thể “gác nó đến hôm sau”.

High: Đây là mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một thời kỳ. Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người bán hơn người mua (tức là: luôn có người bán sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn, nhưng mức giá High miêu tả mức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả tiền).

Low: Đây là mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một giai đoạn. Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người mua hơn người bán (tức là: luôn có người mua sẵn sàng mua ở mức giá thấp hơn, nhưng mức giá Low miêu tả mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp nhận bán).

Close: Đây là mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch trong một thời kỳ. Do tính lợi ích của nó, mức giá Close là một trường được thường xuyên sử dụng nhất để phân tích. Các kỹ thuật viên cho rằng mối quan hệ giữa mức giá Open (Mức giá đầu tiên) và mức giá Close (Mức giá cuối cùng) rất có ý nghĩa. Mối quan hệ đó được nhấn mạnh trong biểu đồ giá đỡ nến (candlestick chart).

Volume: Đây là số lượng cổ phiếu (hoặc hợp đồng)được giao dịch trong một thời kỳ. Mối quan hệ giữa giá và khối lượng (ví dụ: tăng giá đi cùng với tăng khối lượng) rất quan trọng.

Open Interest: Đây là tổng số các hợp đồng future hoặc option còn tồn tại (ví dụ: những hợp đồng chưa được sử dụng, bị chấm dứt hoặc hết hiệu lực). Open Interest thường được sử dụng như là một chỉ số.

Bid: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng trả để mua chứng khoán (tức là: số tiền bạn sẽ nhận khi bạn bán).

Ask: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng chấp nhận để bán chứng khoán (tức là: số tiền bạn sẽ trả để mua chứng khoán).

Những trường đơn gian này được sử dụng để tạo ra hàng trăm công cụ kỹ thuật để nghiên cứu mối quan hệ giá, xu hướng giá, mẫu hình giá…

Không phải tất cả các trường giá này có thể dùng được cho tất cả các kiểu chứng khoán và nhiều nhà cung cấp lời chỉ dẫn chỉ công bố một bộ phận các trường giá. Bảng 1 cho thấy các trường tiêu biểu được sử dụng cho một vài kiểu chứng khoán.

Table 1
Futures Mutual Funds Stocks Options
Open Yes No Often Yes
High Yes Closed end Yes Yes
Low Yes Closed end Yes Yes
Close Yes Yes (*NAV) Yes Yes
Volume Yes Closed end Yes Yes
Open Interest Yes N/A N/A Often
Bid Intraday Closed end Intraday Intraday
Ask Intraday Closed end Intraday Intraday

* Net Asset Value

5:40 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

3

Biểu đồ

Cơ sở của phân tích kỹ thuật là biểu đồ. Trong trường hợp này, một bức tranh đích thực đáng giá hàng nghìn từ.

Biểu đồ đường

Biểu đồ đường là kiểu biểu đồ đơn giản nhất. Như ta thấy trong biểu đồ của General Motors ở hình 2, đường thẳng đơn mô tả giá kết thức mỗi ngày của chứng khoán. Trục ngang thể hiện ngày tháng, trục đứng thể hiện giá.

Hình 2

Sức mạnh của biểu đồ đường xuất phát từ sự đơn giản của nó. Nó cung sự quan sát giá chứng khoán rõ ràng, dễ hiểu. Biểu đồ đường thường hiển thị mức giá Close của chứng khoán.

Biểu đồ thanh

Biểu đồ thanh hiển thị giá Open, High, Low và Close của chứng khoán. Biểu đồ thanh là kiểu biểu đồ chứng khoán phổ biến nhất.

Trong biểu đồ thanh ở hình 3, phần trên cùng của mỗi thanh đứng mô tả mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một giai đoạn và phần dưới cùng của mỗi thanh mô tả mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch. Cái tick được hiện thị ở bên phải của thanh để chỉ rõ mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch. Nếu mức giá Open sẵn có để dùng, thì chúng được biểu thị bằng cái tick ở bên trái của thanh.

Hình 3

 

Biểu đồ thanh khối lượng

Khối lượng thường được hiện thị bằng đồ thị thanh ở dưới đáy của biểu đồ (xem hình 4). Hầu hết các nhà phân tích chỉ giám sát mức độ liên quan của khối lượng, quy mô khối lượng thường không được hiển thị ra.

Hình 4

 

Hình 4 hiện thị khối lượng với gốc là 0. Điều này có nghĩa là phía dưới cùng của mỗi thanh khối lượng là giá trị 0. Tuy nhiên, hầu hết các nhà phân tích thích xem xét khối lượng tương đối hơn khối lượng với gốc bằng 0. Điều này được thực hiện bằng cách trừ đi khối lượng thấp nhất xuất hiện trong một thời kỳ. Các thanh khối lượng đã được điều chỉnh quan hệ làm cho việc quan sát xu hướng khối lượng dễ dàng hơn bằng cách bỏ qua khối lượng hàng ngày nhỏ nhất.

Hình 5

Hình 5 hiện thị thông tin khối lượng tương tự như hình trước, nhưng khối lượng này là tương đối.

Các kiểu biểu đồ khác

Giá chứng khoán có thể được hiển thị bằng cách sử dụng các loại biểu đồ khác, ví dụ candlestick, Equivolume, point & figure…Các loại biểu đồ này sẽ được giải thích ở phần II.

5:40 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

4

Hỗ trợ và kháng cự

Giá cả chứng khoán là kết quả của cuộc chiến đối đầu giữa người đầu cơ giá lên (người mua) và người đầu cơ giá xuống (người bán). Những người đầu cơ giá lên đẩy giá lên cao hơn, còn những người đầu cơ giá xuống đẩy giá xuống thấp hơn. Hành vi trực tiếp của giá cho thấy kẻ thắng trong cuộc chiến.

Tương tự như vậy, xem xét sự biến động giá của Phillip Morris trong hình 6, trong suốt thời kỳ dưới đây, chú ý mỗi lần giá rớt xuống mức $45.50 như thế nào, những người đầu cơ giá lên (tức là người mua) chiếm quyền điều khiển và giữ cho giá không bị rớt thêm nữa. Điều đó có nghĩa là ở mức giá $45.50, những người mua cảm thấy đầu tư vào Phillip Morris là đáng giá (và những người bán không bán với giá thấp hơn $45.50). Kiểu hành vi của giá này liên quan tới mức giá hỗ trợ vì những người mua hỗ trợ cho mức giá $45.50

Hình 6

Liên quan tới mức giá hỗ trợ, mức độ kháng cự là một điểm mà ở đó những người bán chiếm quyền điều khiển giá và ngăn cho chúng không tăng lên cao hơn. Xem hình 7, chú ý mỗi lần giá tiến gần mức $51.50 như thế nào, người bán đông hơn người mua và ngăn cho giá tăng lên.

Hình 7

Mức giá mà giao dịch được diễn ra là mức giá mà người đầu cơ giá lên và người đầu cơ giá xuống đồng ý thực hiện giao dịch. Nó thể hiện sự nhất trí của sự trông đợi. Người đầu cơ giá lên nghĩ rằng giá sẽ tăng cao hơn và người đầu cơ giá xuống nghĩ rằng giá sẽ xuống thấp hơn.

Mức giá hỗ trợ cho thấy mức giá mà đa số các nhà đầu tư tin rằng giá sẽ tăng cao hơn, còn mức giá kháng cự cho thấy đa số các nhà đầu tư cảm thấy giá sẽ xuống thấp hơn.

Nhưng sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi theo gian. Trong một thời gian dài các nhà đầu tư không trông đợi Dow Industrial tăng trên 1000 (như ta thấy trong hình 8 mức độ chống cự rất mạnh mẽ ở mức 1000). Nhưng chỉ vài năm sau, nhà đầu tư sẵn sàng giao dịch ở mức gần 2500

Hình 8

Khi sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, nó thường diễn ra rất đột ngột. Chú ý mức giá tăng vượt mức chống cự của Hasbro Inc. trong hình 9, nó diễn ra rất dứt khoát. Cũng nên chú ý, cú vượt mức giá kháng cự đi kèm với mức tăng khối lượng đáng kể.

Hình 9

Một khi các nhà đầu tư chấp nhận Hasbro có thể được giao dịch ở mức trên $20 thì sẽ có nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng mua với mức cao hơn (do cả giá và khối lượng đều tăng). Cũng như thế, những người trước đây đã bán khi giá đạt đến mức $20.00 cũng bắt đầu trông đợi giá sẽ tăng cao hơn và không còn sẵn sàng bán.

Sự tăng lên của mức giá hỗ trợ và mức giá kháng cự có thể là sự kiện đáng chú ý và xảy ra thường xuyên nhất trên biểu đồ giá. Sự vượt qua mức giá hỗ trợ/kháng cự có thể được thúc đẩy bởi những thay đổi cơ bản mà nó ở mức trên hay dưới sự trông đợi của nhà đầu tư (ví dụ sự thay đổi lợi tức, quản lý, sự cạnh tranh…) hay do sự dự đoán của bản thân (nhà đầu tư mua vì thấy giá tăng). Nguyên nhân này không quan trọng bằng ảnh hưởng của sự trông đợi mới dẫn đến một mức giá mới.

Hình 10 cho thấy cú vượt lên có nguyên nhân tư những nhân tố cơ bản. Cú vượt lên xảy ra khi Snapple đưa ra bản báo cáo lợi tức cao hơn mức được trông đợi. Làm sao mà chúng ta biết được nó cao hơn mức được trông đợi? Bằng sự thay đổi của giá sau bản báo cáo.

Hình 10

 

Những mức giá hỗ trợ/kháng cự khác mang tính cảm xúc nhiều hơn. Ví dụ, DJIA có một khoảng thời gian dài mà nó thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư khi nó tiến gần đến 3000 (xem hình 11)

Hình 11

Cung và cầu

Không có gì bí hiểm về mức giá hỗ trợ và kháng cự - nó là cung và cầu. Hãy nhớ “Echo 101″, đường cung/cầu cho thấy mức cung và cầu ở mức giá xác định.

Đường cung cho thấy khối lượng (tức là số lượng cổ phiếu) mà người bán sẵn sàng cung ứng ở mức giá xác định. Khi giá tăng, khối lượng người bán cung ứng cũng tăng vì nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn.

Đường cầu cho thấy số lượng cổ phiếu mà người mua sẵn sàng mua ở mức giá xác định. Khi giá tăng, khối lượng người mua muốn mua giảm xuống do có ít nhà đầu hơn sẵn sàng mua ở mức giá cao hơn.

Ở mức giá xác đinh, biểu đồ cung/cầu (xem hình 12) cho thấy có bao nhiêu người bán và người mua. Ví dụ, biểu đồ dưới đây cho thấy,ở mức giá 42-1/2 có 10 người mua và 25 người bán.

Hình 12

Hỗ trợ xảy ra ở mức giá mà đường cung cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 27-1/2). Giá không thể xuống thấp hơn mức này vì không có người bán sẵn sàng bán ở mức giá này. Kháng cự xảy ra ở mức giá mà đường cầu cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 47-1/2). Giá không thể tăng lên trên mức này vì không có người mua sẵn sàng mua ở mức giá này.

Trong thị trường tự do, những đường này liên tục thay đổi. Vì sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, vì vậy mức giá người mua và người bán cảm thấy có thể chấp nhận được. Cú vượt lên trên mức giá kháng cự là bằng chứng của sự dịch lên trên của đường cầu vì có nhiều người mua hơn sẵn sàng trả ở mức giá cao hơn. Tương tự như vậy, sự thất bại của mức giá hỗ trợ cho thấy đường cung dịch chuyển xuống dưới.

Nền tảng của hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ lý thuyết cung cầu. Biểu đồ giá chứng khoán cho chúng ta một cái nhìn tuyệt vời về sự hoạt động của những lực lượng này.

Sự hối hận của những người giao dịch (Traders’ remorse)

Theo quá trình thâm nhập của mức giá hỗ trợ/kháng cự, những người giao dịch thường nghi ngờ mức giá mới. Ví dụ, sau cú vượt lên trên mức giá kháng cự, những người mua và người bán có thể cùng nghi ngờ tính hợp lý của mức giá mới và có thể quyết định bán. Điều này tạo ra hiện tượng mà tôi xem đó là “sự hối hận của những người giao dịch”, tại đó mức giá quay trở về mức giá hỗ trợ/kháng cự sau cú vượt của mức giá.

Hãy xem cú vượt của Phillip Morris ở hình 13, chú ý sau cú vượt của giá là sự quay trở lại mức giá kháng cự.

Hình 13

Hành vi của giá theo sau giai đoạn hối hận này là cốt yếu. Một trong hai thứ có thể xảy ra. Hoặc là mức giá mới không được chấp nhận, trong trường hợp đó mức giá sẽ quay trở về mức giá trước, hoặc các nhà đầu tư chấp nhận mức giá mới, trong trường hợp đó mức giá sẽ tiếp tục di chuyển theo hướng vượt qua.

Nếu, theo sự hối hận của người giao dịch, mức giá mới không được chấp nhận, một “chiếc bẫy đầu cơ giá tăng” (bull trap) (hoặc là “cú vượt lỗi”) được tạo ra. Như ta thấy trong hình 14, giá vượt qua mức giá kháng cự $67.50 (câu mồi một nhóm những người đầu cơ giá tăng trông đợi giá tăng cao hơn) và giá sẽ rớt xuống dưới mức kháng cự bỏ mặc những người đầu cơ giá tăng với cổ phân giá cao.

Hình 14

Tương tự, cảm xúc tạo ra cái bẫy đầu cơ giá hạ (bear trap). Giá rớt xuống mức giá hỗ trợ đủ lâu để những người đầu cơ giá hạ bán (hoặc bán khống) sau đó đột ngột tăng lên trên mức giá hỗ trợ bỏ rơi những người đầu cơ giá hạ.

Hình 15

Một điều khác có thể xảy ra sau sự hối hận của người giao dịch là sự trông đợi của các nhà đầu tư có thể thay đổi do mức giá mới được chấp nhận. Trong trường hợp đó giá sẽ tiếp tục di chuyển theo hướng vượt qua (tức là tăng lên nếu mức giá kháng cự bị vượt qua, giảm xuống nếu mức giá hỗ trợ bị vượt qua)

Hình 16

Một cách tốt để xác định mức độ trông đợi sau cú vượt là xem xét khối lượng với mức giá mới. Nếu mức giá mới chọc thủng mức giá hỗ trợ/kháng cự với việc tăng khối lượng lớn, và giai đoạn hối hận của người giao dịch có liên quan đến khối lượng thấp, nó ngụ ý rằng sự trông đợi mới sẽ thống trị (thiểu số các nhà đầu tư hối hận). Ngược lại, sự vượt qua với khối lượng trung bình và giai đoạn hối hận với mức tăng khối lượng cao, nó ngụ ý rằng rất ít sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi và trở về sự trông đợi bình thường (tức là giá bình thường)

Kháng cự trở thành hỗ trợ

Khi mức giá kháng cự bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giá kháng cự. Tương tự, khi mức giá hỗ trợ bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giá kháng cự.

Hình 17 là một ví dụ về mức giá kháng cự trở thành mức giá hỗ trợ. Khi giá vượt qua mức giá kháng cự với $45.00, mức $45.00 trở thành mức giá hỗ trợ.

Đó là bởi vì một “thế hệ” mới các nhà đầu cơ giá tăng mà không mua khi mức giá thấp hơn $45 (họ không trông đợi tăng giá cổ phần) bây giờ nóng lòng mua với bất kỳ mức giá nào gần mức $45

Hình 17

Tương tự khi mức giá xuống thấp hơn mức hỗ trợ, thì nó trở thành mức giá kháng cự. Khi giá tiến gần tới mức giá hỗ trợ trước đây, các nhà đầu tư cố gắng giới hạn sự thua lỗ của họ bằng cách bán. (Xem hình 18)

Hình 18

Tóm lại

Tôi tiếp tục bàn luận về hành vi của giá, sự trông đợi của nhà đầu tư, và mức giá hỗ trợ/kháng cự một cách ngắn gọn nhất có thể. Tuy nhiên từ kinh nghiệm làm việc của tôi với các nhà đầu tư, tôi bị thuyết rằng hầu hết các nhà đầu tư có thể cải thiện kết qủa của họ một cách rõ rệt nếu họ chú ý nhiều hơn tới những ảnh hưởng bên dưới đối với giá chứng khoán: sự trông đợi của nhà đầu tư, cung/cầu.

Dưới đây là phần tóm lại lý thuyết về mức giá hỗ trợ/kháng cự:

  1. Giá chứng khoán thể hiện giá trị thị trường công bằng vì được chấp nhận bởi người mua (người đầu cơ giá lên) và người bán (người đầu cơ giá hạ)
  2. Sự thay đổi giá là kết quả của sự thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư đối với giá chứng khoán tương lai
  3. Mức giá hỗ trợ xuất hiện khi có sự nhất trí rằng mức giá không thể xuống thấp hơn. Đó là thời điểm mà người mua nhiều hơn người bán
  4. Mức giá kháng cự xuất hiện khi có sự nhất trí rằng mức giá không thể lên cao hơn. Đó là thời điểm mà nguời bán nhiều hơn người mua
  5. Sự vượt qua mức giá hỗ trợ hay kháng cự cho thấy sự thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư và sự dịch chuyển của đường cung/cầu
  6. Khối lượng rất hữu dụng để xác định sự thay đổi của sự trông đợi mạnh đến mức nào
  7. Sự hối hận của người giao dịch thường diễn ra sau sự vượt qua mức giá hỗ trợ hay kháng cự vì giá quay trở lại mức bị vượt qua

5:41 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

5

Xu hướng

Trong phân trước, chúng ta đã thấy mức giá support và resistence bị vượt qua như thế nào bởi sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư (mà nó đưa đến kết quả là sự dịch chuyển đường cung/cầu). Kiểu thay đổi này thường bất ngờ và “dựa trên tin tức”.

Trong phần này, chúng ta sẽ xem lại “xu hướng”. Một xu hướng mô tả một sự thay đổi chắc chắn về mặt giá (tức là: một sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư). Xu hướng khác với mức giá support/resistance ở chỗ xu hướng mô tả sự thay đổi trong khi mức giá support/resistance mô tả hàng rào của sự thay đổi.

Như trong hình 19, mức giá thấp vạch rõ xu hướng tăng. Xu hướng tăng có thể được xem là sự tăng lên của mức giá support - những người đầu cơ giá lên đang nắm quyền điều khiển và đẩy giá lên cao hơn.

Hình 19

 

Hình 20 cho thấy xu hướng giảm. Mức giá cao vạch rõ xu hướng giảm. Xu hướng giảm có thể được xem như sự giảm của mức giá resistance - những người đầu cơ giá giảm nắm quyền điều khiển và đẩy giá xuống thấp hơn.

Hình 20

 

Giống như giá cả khi vượt qua mức giá support và resistance khi sự trông đợi thay đổi, giá có thể vượt qua đường xu hướng tăng và giảm. Hình 21 chỉ rõ sự vượt qua đường xu hướng giảm của Merck vì những nhà đầu tư không còn trông đợi mức giá thấp.

Chú ý trong hình 21 khối lượng đã tăng như thế nào khi đường xu hướng bị vượt qua. Đây là sự chứng thực quan trọng rằng xu hướng trước đây đã bị thay đổi.

Hình 21

 

Với mức giá support và resistance, việc xuất hiện sự hối hận của những người buôn khi có sự vượt qua đường xu hướng là phổ biến. Điều này được thể hiện trong hình 22

Hình 22

 

Một lần nữa, khối lượng là chìa khóa xác định rõ ý nghĩa của sự vượt qua đường xu hướng. Trong ví dụ trên, khối lượng tăng khi xu hướng bị vượt qua và yếu ớt như những người đầu cơ giá lên trở lại theo đường xu hướng.

5:42 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

6

Trung bình trượt

Trung bình trượt là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật lâu đời và phổ biến nhất. Chương này mô tả cách tính toán và ý nghĩa của số trung bình động. Chi tiết về số trung bình động được cung cấp trong phần II.

Trung bình trượt là mức giá trung bình của chứng khoán trong thời gian xác định. Khi tính toán số trung bình động, bạn chỉ rõ khoảng thời gian để tính toán số trung bình động (ví dụ: 25 ngày).

Trung bình trượt đơn giản được tính bằng cách cộng giá chứng khoán của “n” thời kỳ và chia cho “n”. Ví dụ, cộng giá chứng khoán lúc đóng cửa trong 25 ngày gần nhất và sau đó chia cho 25. Kết quả là giá trung bình của chứng khoán của 25 ngày. Việc tính toán được thực hiện cho mỗi giai đoạn trong biểu đồ.

Chú ý trung bình trượt không thể tính được cho đến khi bạn có đủ dữ liệu của “n” thời kỳ. Ví dụ, bạn không thể có giá trung bình của 25 ngày cho đến khi ngày thứ 25 có trên biểu đồ.

Hình 23 cho thấy giá lúc đóng cửa trung bình của Caterpillar

Hình 23

Vì trung bình trượt trong biểu đồ trên là mức giá trung bình của chứng khoán trong 25 ngày cuối, nó mô tả sự trông đợi của các nhà đầu tư trong 25 ngày cuối. Nếu giá chứng khoán ở trên trung bình trượt của nó, điều đó có nghĩa là sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư (tức là mức giá hiện tại) đang cao hơn mức trông đợi trung bình của họ trong 25 ngày cuối, và các nhà đầu tư đó đang làm tăng giá chứng khoán. Ngược lại, nếu mức giá ngày hôm nay ở dưới mức trung bình trượt của nó, nó cho thấy sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư thấp hơn mức trông đợi trung bình trong 25 ngày cuối.

Ý nghĩa cổ điển của trung bình trượt là quan sát sự thay đổi của giá. Các nhà đầu tư thường mua khi giá chứng khoán của nó cao hơn số trung bình động của nó và bán khi giá rơi xuống dưới trung bình trượt của nó.

Các thời kỳ trong trung bình trượt

Những mũi tên “Buy” được vẽ trên biểu đồ ở hình 24 khi giá của Aflac tăng trên trung bình trượt của 200 ngày, những mũi tên “Sell” được vẽ khi giá của Aflac giảm xuống dưới trung bình trượt 200 ngày.

Hình 24

Xu hướng dài hạn thường sử dụng trung bình trượt 200 ngày. Bạn có thể sử dụng phần mềm máy tính để tự động quyết định khoảng thời gian tối ưu. Bỏ qua các khoản tiền hoa hồng, sử dụng, trung bình trượt của các khoảng thời gian ngắn hơn thường có lợi nhuận cao hơn.

Điểm nổi bật

Điểm nổi bật của kiểu hệ thống trung bình trượt này (tức là việc mua và bán khi giá vượt qua trung bình trượt của nó) là bạn luôn ở phía “đúng” của thị trường - giá không thể tăng quá nhiều mà không có sự tăng giá vượt mức giá trung bình của nó. Nhược điểm là bạn sẽ luôn mua hoặc bán trễ. Nếu xu hướng không duy trì ở thời kỳ quan trọng, đặc biệt gấp 2 lần độ lớn của trung bình trượt, bạn sẽ mất tiền. Điều này được mô tả trong hình 25.

Hình 25

[Image Removed by User]

Sự hối hận của những người giao dịch

Trung bình trượt thường cho thấy sự hối hận của người giao dịch. Như ta thấy trong hình 26, việc giá chứng khoán vượt qua trung bình trượt dài hạn của nó và sau đó trở lại mức giá trung bình trước khi tiếp tục theo con đường của nó.

Hình 26

[Image Removed by User]

Bạn có thể sử dụng trung bình trượt để làm “mượt” dữ liệu. Biểu đồ trong hình 27 cho thấy lịch sử 13 năm của các cổ phiếu đạt được đỉnh cao mới (biểu đồ trên) và trung bình trượt 10 tuần (biểu đồ dưới). Chú ý trung bình trượt làm cho việc xem xu hướng đúng dễ dàng hơn như thế nào.

Hình 27

[Image Removed by User]

5:42 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

7

Chỉ số

Chỉ số là kết quả tính toán toán học mà có thể được áp dụng lên giá chứng khoán và/hoặc khối lượng. Kết quả là giá trị được sử dụng để dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai.
Số trung bình động phù hợp với định nghĩa của chỉ số. Nó là kết quả tính toán có thể được thực hiện trên giá cổ phiếu để tính toán giá trị mà có thể được sử dụng để dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai.

Chương tiếp theo bao gồm nhiều ví dụ về chỉ số. Tôi sẽ tóm tắt ngắn gọn một chỉ số đơn giản, MACD (Moving Average Convergence Divergence).

MACD

MACD được tính toán bằng cách lấy số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán trừ số trung bình động 26 ngày của giá chứng khoán. Kết quả là chỉ số dao động quanh 0.

Khi MACD lớn hơn 0 điều đó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán lớn hơn số trung bình động 26 ngày của giá chứng khoán. Điều này cho thấy rằng sự trông đợi hiện tại (tức là số trung bình động 12 ngày) tác động làm tăng giá cổ phẩn nhiều hơn sự trông đợi trước đây (tức là số trung bình động 26 ngày). Nó ngụ ý sự dịch chuyển lên trên của đường cung/cầu. Khi MACD nhỏ hơn 0 nó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày nhỏ hơn số trung bình động 26 ngày, và hàm ý sự dịch chuyển xuống dưới của đường cung/cầu.
Hình 28 cho thấy giá chứng khoán của Autozone và chỉ số MACD của nó. Tôi đã gán nhãn vào biểu đồ “Bullish” khi MACD lớn hơn 0 và “Bearish” khi MACD nhỏ hơn 0. Tôi cũng đưa ra số trung bình động 12 ngày và 26 ngày trên biểu đồ giá.

Hình 28

 

Số trung bình động 9 ngày của MACD (không phải của giá chứng khoán) thường được vẽ lên trên đỉnh của MACD. Đường này được xem như là đường “dấu hiệu”. Đường dấu hiệu dự báo sự hội tụ của 2 số trung bình động (tức là sự di chuyển của MACD về phía đương 0).
Biểu đồ trong hinh 29 cho thấy MACD (đường nét liền) và đường dấu hiệu (đường nét đứt). Mũi tên “Mua” được vẽ khi MACD tăng lên trên đường dấu hiệu của nó, mũi tên “Bán” được vẽ khi MACD giảm xuống dưới đường dấu hiệu của nó.

Hình 29

 

Hãy xem xét … đằng sau kỹ thuật này. MACD khác với 2 số trung bình động của giá. Khi số trung bình động ngắn hạn tăng vượt lên số trung bình động dài hạn (tức là MACD tăng lên trên 0), nó có nghĩa là sự trông đợi của các nhà đầu tư đang làm tăng giá cổ phần (tức là có sự dịch chuyển lên trên của đường cung cầu). Bằng cách đặt lên trên số trung bình động 9 ngày của MACD, chúng ta có thể thấy sự thay đổi của sự trông đợi (tức là việc dịch chuyển đường cung/cầu).

Chỉ số dẫn đầu với chỉ số theo sau

Số trung bình động và MACD là những ví dụ của xu hướng đi theo sau: chỉ số “theo sau” (xem hình 30). Những chỉ số này rất tuyệt vời khi giá thay đổi tương dối với xu hướng dài hạn. Chúng không cảnh báo cho bạn những thay đổi sắp tới, chúng đơn giản chỉ nói cho bạn biết giá đang làm gì (tức là lên hoặc xuống) vì thế bạn có thể đầu tư một cách phù hợp. Xu hướng mà đi theo sau chỉ số làm cho bạn mua và bán muộn và đổi lại chúng làm giảm những rủi ro của bạn và giữ bạn ở bên đúng của thị trường.

Hình 30

 

Như ta thấy trong hình 31, xu hướng đi theo sau chỉ số không hoạt động tốt trong một bên thị trường.

Hình 31

Loại chỉ số khác là chỉ số “dẫn đầu”. Những chỉ số này giúp bạn thu lợi bằng cách dự đoán giá sẽ làm gì tiếp theo. Chỉ số dẫn đầu cung cấp phần thưởng lớn cho chi phí của nguy cơ gia tăng. Chúng hoạt động tốt ở một bên thị trường “giao dịch”.

Chỉ số “dẫn đầu” thường hoạt động bằng cách đo mức độ “mua quá nhiều” hoặc “bán quá nhiều” của chứng khoán. Điều này được thực hiện cùng với sự thừa nhận rằng chứng khoán mà được bán quá nhiều thì nảy bật trở lại (xem hình 32)

Hình 32

Loại chỉ số bạn dùng, “dẫn đầu” hoặc “theo sau”, phụ thuộc vào sở thích cá nhân. Theo kinh nghiệm của tôi, hầu hết các nhà đầu tư (trong đó có cả tôi) thành công với xu hướng theo sau hơn là dự đoán chúng. Do đó tôi thích sử dụng chỉ số theo sau hơn. Tuy nhiên tôi cũng đã gặp rất nhiều nhà đầu tư thành công thích sử dụng chỉ số dẫn đầu.

Giá xu hướng với giá giao dịch
Có một vài hệ thống giao dịch và chỉ số được phát triển để xác đinh giá là xu hướng hay giao dịch. Điều này có nghĩa là bạn nên sử dụng chỉ số theo sau trong thị trường xu hướng và chỉ số dẫn đầu trong thị trường giao dịch. Trong khi tương đối dễ để xác định liệu giá đang là trending hay trading, rất khó để xác định giá là trending hay trading trong tương lai.

Hình 33

Sự phân kỳ

Sự phân kỳ xảy ra khi xu hướng của giá chứng khoán không khớp với xu hướng của chỉ số. Rất nhiều ví dụ trong các chương sau chứng minh cho sự phân kỳ.

Biểu dồ 34 cho thấy sự phân kỳ giữa Whirlpool và CCI (Commodity Channel Index) 14 ngày của nó. Giá của Whirlpool đạt được đỉnh cao mới trong khi CCI rớt xuống để đạt đỉnh cao mới. Khi sự phân kỳ xảy ra giá thường thay đổi hướng để thừa nhận xu hướng của chỉ số như trong hình 34. Điều này xảy ra bởi vì chỉ số đo xu hướng giá tốt bản thân giá.

Hình 34

5:43 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

8

Chỉ số thị trường

Tất cả các công cụ phân tích kỹ thuật được bàn đến ở trên cho đến thời điểm này được tính bằng cách sử dụng giá chứng khoán (ví dụ: high, low, open, close, volumn…). Có một nhóm các công cụ phân tích kỹ thuật khác được thiết kế để giúp bạn đo sự thay đổi của tất cả chứng khoán trong một thị trường cụ thể. Những chỉ số này thường được gọi là “chỉ số thị trường”, bởi vì chúng đo toàn toàn bộ thị trường, chứ không phải một chứng khoán riêng lẻ nào. Chỉ số thị trường thường phân tích thị trường cổ phiếu, mặc dù chúng có thể được sử dụng cho các thị trường khác (ví dụ: future).

Trong khi các trường dữ liệu cho một chứng khoán riêng lẻ được giới hạn trong mức giá open, high, low, close, volumn của nó, và rải rác trong các bản báo cáo tài chính, thì có một số lượng lớn các mục dữ liệu cho toàn bộ thị trường cổ phiếu. Ví dụ: số lượng các cổ phần đạt được mức giá high mới trong ngày, số lượng cổ phần tăng giá… Chỉ số thị trường không thể được tính chỉ cho một chứng khoán riêng lẻ vì dữ liệu yêu cầu không thể dùng được.
Chỉ số thị trường làm tăng thêm ý nghĩa sâu sắc cho phân tích kỹ thuật vì chúng chứa nhiều thông tin hơn giá và khối lượng. Sử dụng chỉ số thị trường để xác định đỉnh điểm của toàn bộ thị trường ở đâu và sau đó sử dụng chỉ số giá/khối lượng để xác định khi nào mua/bán một cổ phiếu riêng lẻ. Cũng tương tự như “tất cả các con thuyền lên khi thủy triều dâng lên”, cho nên sẽ ít rủi ro hơn đối với việc sở hữu cổ phần khi thị trường cổ phiếu lên.

Các loại chỉ số thị trường

Chỉ số thị trường thường rơi vào 3 loại: tiền tệ, cảm tính, và đà.

Chỉ số tiền tệ tập trung vào dữ liệu kinh tế như lãi suất. Chúng có thể giúp bạn xác định môi trường kinh tế mà các công ty đang hoạt động. Các tác động bên ngoài này trực tiếp ảnh hưởng lợi nhuận và giá cổ phiếu của các công ty.

Ví dụ về chỉ sổ tiền tệ là lãi suất, cung tiền, nợ tiêu dùng và nợ chung và lạm phát. Do số lượng lớn các chỉ số thị trường, tôi chỉ bàn luận một vài chỉ số thị trường cơ bản trong cuốn sách này.

Chỉ số cảm tính tập trung vào sự trông đợi của nhà đầu tư – thường trước khi mức giá thể hiện rõ những trông đợi này. Với một chứng khoán riêng lẻ, giá thường chỉ là số đo mức độ cảm tính của nhà đầu tư. Tuy nhiên, đối với thị trường lớn như sàn giao dịch New York, có nhiều hơn chỉ số cảm tính có thể dùng được. Những chỉ số này bao gồm số lượng các lô bán lẻ (tức là các nhà đầu tư nhỏ nhất đang làm gì?), tỉ lệ put/call (tức là có bao nhiêu người đang mua put so với call), tỉ lệ các nhà cố vấn đầu tư giá lên so với các nhà cố vấn đầu tư giá xuống…

Các nhà đầu tư “trái ngược” sử dụng chỉ số cảm tính để xác định phần đông các nhà đầu tư trông đợi giá sẽ như thế nào, sau đó họ làm ngược lại. Dựa trên lý trí, nếu mọi người đồng ý rằng giá sẽ lên thì số lượng các nhà đầu tư còn lại không đủ để đẩy giá lên cao hơn. Lý thuyết này là minh chứng tốt- hầu hết mọi người là những người đầu cơ giá lên khi thị trường đạt đến đỉnh (khi họ nên bán) và là người đầu cơ giá xuống khi thị trường ở mức đáy (khi họ nên mua).

Loại thứ ba của chỉ số thị trường, đà, cho thấy giá đang thực sự như thế nào gì, nhưng bằng cách xem xét sâu hơn giá. Ví dụ chỉ số đà bao gồm tất cả chỉ số giá/khối lượng mà được áp dụng cho các loại chỉ số thị trường (tức là chỉ số MACD của chỉ số công nghiệp DOW), số lượng cổ phẩn đạt được mức giá high mới so với số lượng cổ phiếu đạt được mức giá low mới, mối quan hệ giữa các cổ phần tăng giá với các cổ phần giảm giá, so sáng giữa khối lượng của các cổ phiếu tăng giá với khối lượng của các cổ phiếu giảm giá…

Đưa ra các ba nhóm của chỉ số thị trường, chúng ta có cái nhìn sâu hơn:

  1. Các điều kiện tiền tệ bên ngoài anh hưởng đến giá chứng khoán. Điều này nói cho chúng ta biết giá chứng khoán nên như thế nào.
  2. Mức độ cảm tính trong các lĩnh vực của cộng đồng đầu tư. Điều này cho chúng ta biết các nhà đầu tư trông đợi giá sẽ như thế nào.
  3. Đà hiện tại của thị trường. Điều này cho chúng ta biết giá hiện tại đang thực sự như thế nào.

Hình 35, cho thấy Prime Rate với số trung bình động 50 tuần. Mũi tên “Buy” được vẽ khi Prime Rate cắt phía dưới đường số trung bình động của nó (lãi suất giảm) và mũi tên “Sell” được vẽ khi Prime Rate cát ở phía trên đường số trung bình động của nó (lãi suất thấp). Biểu đồ sau thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa giá cổ phiếu và lãi suất.

Hình 35

Hình 36 cho thấy số trung bình động 10 ngày của tỷ lệ Put/Call (chỉ số cảm tính). Tôi gán lên trên biểu đồ các mũi tên “Buy” khi số trung binh động vượt mức giá 84. Đây là mức mà các nhà đầu tư đâu cơ giá xuống và trông đợi giá xuống. Bạn có thể thấy mỗi khi các nhà đầu tư trở thành những người đầu cơ giá hạ thì giá thực sự tăng.

Hình 36

Hình 37 cho thấy số trung bình động 50 tuần (chỉ số đà) của S&P 500. Mũi tên “Buy” được vẽ khi S&P tăng vượt lên trên số trung bình động 50 tuần của nó, mũi tên “Sell” được vẽ khi S&P giảm xuống dưới số trung bình động của nó. Bạn có thể thấy chỉ số đà thể hiện mọi chuyển động chủ yếu của thị trường như thế nào.

Hình 37

Hình 38 kết hợp biểu đồ tiền tệ và đà trên. Biểu đồ được gán nhãn “Bullish” khi Prime Rate giảm xuống dưới số trung bình động 50 tuần của nó (nghĩa là lãi suất đang giảm) và khi S&P 500 tăng vượt số trung bình động 50 tuần của nó.

Hình 38

Biểu đồ trong hình 38 là một ví dụ tốt. Bạn không cần biết giá sẽ như thế nào trong tương lai- bạn chỉ đơn giản là cần cải thiện lợi thế của bạn. Trong một khoảng thời gian xác định trong biểu đồ này, tôi không thể nói cho bạn biết thị trường sẽ thế nào trong 6 tháng sau. Tuy nhiên, bằng việc có lợi thế biết giá cổ phần tăng khi lãi suất giảm và khi S&P 500 tăng vượt số trung bình động 50 tuần của nó và bạn có thể giảm thiểu các rủi ro và tăng cơ hội tạo ra lợi nhuận.

5:44 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

9

Đường nghiên cứu

Đường nghiên cứu là công cụ phân tích kỹ thuật bao gồm các đường thẳng được vẽ trên biểu đồ giá chứng khoán và/hoặc chỉ số. Những đường này có thể bao gồm đường support, resistance và đường xu hướng.

Hình 39 mô tả một vài đường nghiên cứu

Hình 39

5:44 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

10

Tính chu kỳ

Bỏ qua “tính chu kỳ” về dữ liệu trong biểu đồ (tức là hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng …), nguyên tắc cơ bản của phân tích kỹ thuật vẫn tồn tại. Hãy xem xét các biểu đồ sau:

Hình 40

Hình 41

Hình 42

Chu kỳ càng ngắ, càng khó dự đoán và thu lợi từ sự thay đổi của giá. Khó khăn cộng với chu kỳ ngắn hơn được tạo ra bởi một thực tế là bạn có rất ít thời gian để đưa ra quyết định

“While we stop and think, we often miss our opportunity.”
- Publilius Syrus, 1st century B.C.

Cơ hội xuất hiện trong bất cứ khoảng thời gian nào. Nhưng tôi hiếm khi gặp những nhà đầu tư ngắn hạn thành công lại có thể thành công trong đầu tư dài hạn. Và tôi đã gặp rất nhiều nhà đầu từ chạy theo hội chứng cỏ xanh hơn tin rằng những giai đoạn ngắn hơn là bí mật để làm ra tiền - điều này không đúng.

5:45 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

11

Yếu tố thời gian

Rất nhiều công cụ phân tích kỹ thuật tập trung vào sự thay đổi của giá theo thời gian. Hãy xem xét ảnh hưởng của thời gian trong các biểu đồ sau, trong mỗi biểu đồ, giá chứng khoán tăng từ $25 lên khoảng $45.

Hình 43 cho thấy giá chứng khoán của Merck đã tăng đều đặn 12 tháng. Biểu đồ này cho thấy các nhà đầu tư tiếp tục tin tưởng xu hướng giá chứng khoán lên

Hình 43

Như ta thấy trong hình 44, giá chứng khoán của Disney cũng dao động trong khoảng từ $25 đến $45, nhưng nó có 2 chuyển động rõ ràng. Nó cho thấy, trong 2 lần đó các nhà đầu tư tin rằng giá sẽ lên cao hơn. Nhưng trong cuộc chiến tranh giá đầu tiên, một khoảng thời gian đã trôi qua trước khi các nhà đầu tư chấp nhận giá mới và sẵn sàng để đưa chúng lên cao hơn.

Hình 44

Sự tạm ngừng sau lần tăng giá mạnh của chứng khoán Disney là một hiện tượng điển hình. Trong khoảng thời gian tức thì, mọi người rất khó chấp nhận mức giá mới nhưng sẽ dần dần chấp nhận nó.

Đây là một diện mạo thú vị của điểm và hình dạng của biểu đồ, bởi vì điểm và hình dạng của biểu đồ hoàn toàn coi nhẹ thời gian trôi qua và chỉ thể hiện sự thay đổi của giá cả.

Mẫu tiếp cận

Có rất nhiều công cụ phân tích kỹ thuật trong cuốn sách này. Phần khó nhất của phân tích kỹ thuật là lựa chọn công cụ để sử dụng. Đây là một cách tiếp cận bạn có thể thử:

  1. Xác định toàn cảnh thị trường: Nếu bạn đang giao dịch các chứng khoán (ví dụ như cổ phần), thì xác định xu hướng lãi suất, xu hướng của NYSE và tâm lý các nhà đầu tư (ví dụ như bằng cách đọc báo). Mục tiêu là xác định toàn cảnh thị trường.
  2. Lựa chọn chứng khoán: Tôi đề nghị bạn lựa chọn chứng khoán của các công ty hoặc ngành kinh doanh bạn quen thuộc, hoặc theo sự đề nghị của các nhà phân tích.
  3. Xác định xu hướng tổng thể của chứng khoán: Vẽ biểu đồ giá chứng khoán trung bình 200 ngày (hoặc 39 tuần). Cơ hội mua tốt nhất thường xuất hiện khi giá chứng khoán vượt lên trên đường trung bình dài hạn.
  4. Lựa chọn điểm nhảy vào: Mua và bán bằng cách sử dụng những chỉ số ưa thích nhất của bạn. Tuy nhiên, chỉ tham gia khi đã hiểu được toàn cảnh thị trường.

Nhiều thành công của bạn trong phân tích kỹ thuật sẽ bắt nguồn từ kinh nghiệm. Mục đích không phải là tìm thấy chén của Đức Chúa trong phân tích kỹ thuật, nó làm giảm các rủi ro trong khi lợi dụng các cơ hội (ví dụ: sử dụng các chỉ số ưa thích nhất của bạn để chọn thời điểm giao dịch). Khi bạn thu được nhiều kinh nghiệm, bạn sẽ tạo ra những khoản đầu tư tốt hơn, có nhiều lợi nhuận hơn.

“A fool sees not the same tree that a wise man sees.”
- William Blake, 1790

5:45 pm
4/10/2008


admin

Admin

Ho Chi Minh

posts 28

12

Một kết luận thích hợp cho phần mở đầu phân tích kỹ thuật là một chuỗi các bài học mà tôi đã học được.

  • Đừng làm tồi tệ thêm khoản thua lỗ của bạn bằng cách kéo mức trung bình xuống (tức là không tiếp tục mua thêm cổ phiếu ở mức giá thấp hơn).
  • Bất kỳ khi nào bạn sở hữu chứng khoán, hãy tự hỏi chính mình liệu bạn sẽ mua nó ngày hôm nay. Nếu bạn không định mua nó, hãy xem xét việc bán nó đi.
  • Đừng bị rối loạn bởi sự đầu tư thành công của người khác. Hầu hết các nhà đầu tư chỉ nói về những thành công của mình, đe dọa sự tập trung và sự tự tin của bạn.
  • Các khoản đầu tư thông minh không được đưa ra bảng Ouji một cách nhanh chóng. Chúng được tạo ra bằng cách sử dụng cách tiếp cận logic là tối thiểu hóa rủi ro, tối đa hóa cơ hội.
  • Nắm chắc căn bản. Hầu hết các nhà đầu tư đều dành thời gian để tìm kiếm những khoản tiền dễ kiếm (những khoản tiền mà không thực sự dễ tìm thấy) thay vì học các nhân tố chính tác động đến giá chứng khoán - cung và cầu.

“Opportunities flit by while we sit regretting the chances we have lost…”
- Jerome K. Jerome, 1889

© Simple:Press Forum - Version 3.1.4 (Build 357)