<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	>

<channel>
	<title>Blog của Người Đầu Tư</title>
	<atom:link href="http://nguoidautu.com/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://nguoidautu.com</link>
	<description>để đồng tiền + thời gian = nhiều đồng tiền hơn</description>
	<pubDate>Sat, 13 Dec 2008 07:56:33 +0000</pubDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.6.3</generator>
	<language>en</language>
			<item>
		<title>Một số điểm đặc trưng của cổ phiếu</title>
		<link>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/mot-so-diem-dac-trung-cua-co-phieu.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/mot-so-diem-dac-trung-cua-co-phieu.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 13 Dec 2008 07:56:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kiến thức chứng khoán]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=248</guid>
		<description><![CDATA[Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Cổ phiếu có một số đặc trưng như:
Tính thanh khoản cao
Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng. Tuy nhiên, tính [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Cổ phiếu có một số đặc trưng như:<span id="more-248"></span></p>
<p><strong>Tính thanh khoản cao</strong></p>
<p>Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng. Tuy nhiên, tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Thứ nhất là kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành. Thông thường, nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường. Ngược lại, nếu công ty làm ăn kém hiệu quả, không trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, giá cổ phiếu của công ty sẽ giảm và khó bán. Thứ hai là mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Thị trường cổ phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của quy luật cung cầu. Giá cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của công ty, mà còn phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư. Tuy một loại cổ phiếu rất tốt, nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng bán) thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá, thậm chí xu hướng giảm giá chung của thị trường đôi khi đánh đồng giữa cổ phiếu tốt và xấu (tất cả đều giảm và thanh khoản thấp). Ngược lại, khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng có thể bán dễ dàng với mức giá cao. Ngoài ra, các nhân tố khác như đầu cơ, móc ngoặc, lũng đoạn chứng khoán của cá nhân, tổ chức nhằm tạo ra cung cầu chứng khoán giả tạo cũng làm tính thanh khoản bị méo mó.</p>
<p><strong>Tính lưu thông</strong></p>
<p>Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sự, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế, tặng, cho… để thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình.</p>
<p><strong>Tính tư bản giả</strong></p>
<p>Cổ phiếu có tính tư bản giả, tức là cổ phiếu có giá trị như tiền. Tuy nhiên, cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền. Mệnh giá của cổ phiếu cũng không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Tuy nhiên, lưu ý rằng, với cổ phiếu phổ thông thì mệnh giá chủ yếu mang tính chất danh nghĩa do giá trị của cổ phiếu được quyết định bởi thị trường, nhưng với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá gần với giá trị thực tế hơn, vì cổ tức được tính toán theo một số phần trăm nhất định của mệnh giá.</p>
<p><strong>Tính rủi ro cao</strong></p>
<p>Về lý thuyết, khi đã phát hành, cổ phiếu không đem lại rủi ro cho tổ chức phát hành, mà rủi ro lúc này thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu. Nguyên nhân là giá trị của cổ phiếu do các nguyên nhân khách quan quyết định, như kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia và toàn thế giới… Hơn nữa, giá trị cổ phiếu còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý của số đông nhà đầu tư khi nắm bắt các thông tin không chính xác hay chính sự thiếu hiểu biết của nhà đầu tư cũng khiến cổ phiếu rủi ro hơn. Tất nhiên, rủi ro cao thường đi kèm với kỳ vọng lợi nhuận lớn và điều này tạo nên sự hấp dẫn của cổ phiếu đối với các nhà đầu tư.</p>
<p><em>Bộ phận Tư vấn và Phân tích, CTCK Hà Nội (HSSC)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/mot-so-diem-dac-trung-cua-co-phieu.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phục hồi của TTCK</title>
		<link>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/cac-yeu-to-anh-huong-den-su-phuc-hoi-cua-ttck.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/cac-yeu-to-anh-huong-den-su-phuc-hoi-cua-ttck.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 11 Nov 2008 06:36:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kiến thức chứng khoán]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=246</guid>
		<description><![CDATA[Dựa trên những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế và sự chuyển biến của TTCK, đặc biệt là dòng vốn ngoại từ tháng 7/2008 đến nay, Báo cáo thị trường tháng 10/2008 được thực hiện bởi Phạm Kinh Luân và nhóm nghiên cứu CTCK Vàng Việt Nam (VGS) đã đưa ra nhận định, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Dựa trên những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế và sự chuyển biến của TTCK, đặc biệt là dòng vốn ngoại từ tháng 7/2008 đến nay, Báo cáo thị trường tháng 10/2008 được thực hiện bởi Phạm Kinh Luân và nhóm nghiên cứu CTCK Vàng Việt Nam (VGS) đã đưa ra nhận định, có 3 yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự phục hồi của TTCK Việt Nam trong thời gian tới.<span id="more-246"></span></p>
<p>Thứ nhất, đó là khả năng phục hồi của TTCK thế giới. Theo Báo cáo, hoạt động tín dụng bùng nổ trong một thời gian dài đã tạo ra các loại bong bóng tài sản khác nhau, đặc biệt là bất động sản. Sự đổ vỡ dây chuyền các loại bong bóng tài sản đã dẫn đến sự khô kiệt các nguồn tín dụng và hệ quả là xảy ra cuộc khủng hoảng tín dụng và tài chính toàn cầu, làm suy giảm niềm tin lẫn nhau trong cộng đồng đầu tư. Sự suy sụp niềm tin này đã làm cho tính thanh khoản của hệ thống NHTM bị tắc nghẽn và hệ quả là sự đình trệ và suy thoái về kinh tế, rối loạn về mặt xã hội.</p>
<p>Cho đến nay, các nước với tiềm lực mạnh có khả năng tự cứu  mình đã phối hợp đề ra và thực hiện các kế hoạch giải cứu thị trường tài chính và thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hỗ trợ các nước không có khả năng tự cứu được mình. Những biện pháp trên đã và đang tạo tính thanh khoản cho hệ thống NHTM (lãi suất LIBOR nhanh chóng hạ nhiệt) và quan trọng hơn, niềm tin của cộng đồng đầu tư đã từng bước được phục hồi. Những kế hoạch kích thích kinh tế trong thời gian tới chắc chắn sẽ tiếp thêm sinh khí cho TTCK toàn cầu.</p>
<p>Thứ hai, đó là môi trường kinh tế vĩ mô trong nước. Nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều giải pháp nới lỏng thị trường tiền tệ. Những quyết định này đang góp phần làm giảm lãi suất cho vay đối với DN, giảm sức ép về nợ quá hạn gia tăng (qua đó sẽ cải thiện được lợi nhuận của khối ngân hàng) và giảm áp lực về thời hạn trả nợ đối với DN, đặc biệt là đối với DN trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.</p>
<p>Thứ ba, đó là khả năng duy trì lợi nhuận của các DN niêm yết. Theo VGS, sự suy thoái kinh tế toàn cầu, một mặt làm suy giảm đáng kể sức tiêu thụ các loại hàng hoá, nhưng mặt khác cũng tạo ra xu hướng sụt giảm mạnh giá các loại nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu. Lãi suất cho vay của ngân hàng đang có xu hướng giảm dần và tỷ giá sẽ tiếp tục được duy trì ổn định trong thời gian tới. Khả năng hấp thụ được những cơ hội đó, cũng như sức chống chịu đối với hoàn cảnh bất lợi tuỳ thuộc rất nhiều vào tính chất của từng ngành hàng và năng lực nội tại của từng DN. Khả năng chống chịu và phát triển bền vững của DN niêm yết sẽ chi phối và tạo ra bối cảnh cho diễn biến của TTCK Việt Nam trong những tháng tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/cac-yeu-to-anh-huong-den-su-phuc-hoi-cua-ttck.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Một số quy định về trả cổ tức</title>
		<link>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/mot-so-quy-dinh-ve-tra-co-tuc.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/mot-so-quy-dinh-ve-tra-co-tuc.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 06 Nov 2008 09:32:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kiến thức chứng khoán]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=241</guid>
		<description><![CDATA[Cổ tức là một phần quan trọng trong lợi nhuận của doanh nghiệp dành chia cho cổ đông, được gọi là thu nhập của cổ đông. Trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi, nói chung cổ tức không cố định. Tuy nhiên, mức độ cao thấp của cổ tức cũng như tính chất ổn định [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Cổ tức là một phần quan trọng trong lợi nhuận của doanh nghiệp dành chia cho cổ đông, được gọi là thu nhập của cổ đông. Trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi, nói chung cổ tức không cố định. Tuy nhiên, mức độ cao thấp của cổ tức cũng như tính chất ổn định tương đối của việc chi trả cổ tức giữa các ngành và các công ty trong từng ngành có sự khác nhau.<span id="more-241"></span></p>
<p>Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi được thực hiện theo các điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi. Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Mặt khác, ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.</p>
<p><strong>Hình thức</strong></p>
<p>Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác quy định tại điều lệ công ty. Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam và có thể được thanh toán bằng séc hoặc lệnh trả tiền gửi bằng bưu điện đến địa chỉ thường trú của cổ đông. Nhìn chung, khi thị trường chứng khoán theo xu thế tăng, các cổ đông mong muốn được trả cổ tức bằng cổ phiếu và ngược lại thị trường thị giảm, họ lại mong muốn nhận cổ tức bằng tiền mặt.</p>
<p>Cổ tức có thể được thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng khi công ty đã có đủ chi tiết về ngân hàng của cổ đông để có thể chuyển trực tiếp được vào tài khoản ngân hàng của cổ đông. Nếu công ty đã chuyển khoản theo đúng các thông tin chi tiết về ngân hàng như thông báo của cổ đông thì công ty không chịu trách nhiệm về các thiệt hại phát sinh từ việc chuyển khoản đó.</p>
<p><strong>Thủ tục</strong></p>
<p>HĐQT phải lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất 30 ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về trả cổ tức phải được gửi bằng phương thức bảo đảm đến được địa chỉ đăng ký  của tất cả cổ đông chậm nhất 15 ngày trước khi thực hiện trả cổ tức. Thông báo phải ghi rõ tên công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần từng loại của cổ đông; mức cổ tức đối với từng cổ phần và tổng số cổ tức mà cổ đông đó được nhận, thời điểm và phương thức trả cổ tức; họ, tên, chữ ký của chủ tịch HĐQT và người đại diện theo pháp luật của công ty.</p>
<p>Trường hợp cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian giữa thời điểm kết thúc lập danh sách cổ đông và thời điểm trả cổ tức thì người chuyển nhượng là người nhận cổ tức từ công ty.</p>
<p><em>Bộ phận Tư vấn và Phân tích, CTCK Hà Nội (HSSC) </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/mot-so-quy-dinh-ve-tra-co-tuc.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán theo thời gian</title>
		<link>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/cac-yeu-to-anh-huong-den-thi-truong-chung-khoan-theo-thoi-gian.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/cac-yeu-to-anh-huong-den-thi-truong-chung-khoan-theo-thoi-gian.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 06 Nov 2008 09:16:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kiến thức chứng khoán]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=239</guid>
		<description><![CDATA[Có rất nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến TTCK như các thông tin cập nhật, thậm chí cả tin đồn; tiền và tâm lý của nhà đầu tư cũng như quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến TTCK như thế nào, trong khoảng thời [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Có rất nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến TTCK như các thông tin cập nhật, thậm chí cả tin đồn; tiền và tâm lý của nhà đầu tư cũng như quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến TTCK như thế nào, trong khoảng thời gian bao lâu, sau đây chúng ta cùng tìm hiểu.<span id="more-239"></span></p>
<p><strong>Các yếu tố ảnh hưởng ngắn hạn</strong></p>
<p>Thời kỳ ngắn hạn, TTCK lên xuống do những sự kiện hàng ngày, các thông tin cập nhật, kể cả những tin đồn gây nên. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên tiếp nhận, diễn giải thông tin, suy đoán, kết luận và quyết định mua bán có thể sai hoặc nhầm lẫn nếu thông tin đó không chính xác. Ở thời kỳ này, không phải bản thân các sự kiện hay thông tin, mà chính trạng thái tâm lý hiện hành trên thị trường làm giá chứng khoán lên xuống. Đôi khi, nhà đầu tư phản ánh một cách hốt hoảng, thái quá, ngược với mọi logich thường nhật hay các luận cứ kinh tế. Điều này có thể dẫn đến thị trường tăng giảm vô căn cứ, chỉ vì người chơi chứng khoán lấy các sự kiện như một cách biện minh cho hành động của mình.</p>
<p>Một ví dụ rõ nhất là sự ảnh hưởng mạnh và rõ rệt của những biến động hàng ngày, hàng giờ của kinh tế thế giới trong thời gian qua. Những sự kiện như việc phá sản hàng loạt tổ chức tài chính hàng đầu sau khi mọi nỗ lực giải cứu không thành khiến TTCK toàn thế giới sụt giảm kỷ lục. Tâm lý nặng nề đó tiếp tục khiến nhà đầu tư hoảng hốt, tháo chạy không cân nhắc và hiển nhiên TTCK càng thêm suy thoái.</p>
<p><strong>Các yếu tố ảnh hưởng trung hạn</strong></p>
<p>Tiền và tâm lý là những yếu tố có tính quyết định đến trào lưu thị trường trung hạn. Theo nhiều nhà kinh tế, khi cả hai yếu tố tiền và tâm lý đều âm, TTCK rất trầm. Nếu chỉ có một trong hai yếu tố tích cực, còn yếu tố kia âm thì thị trường vẫn chưa thể khởi sắc. Song khi có tiền cộng với tâm lý phấn khích, TTCK theo xu hướng đi lên, phát triển nhanh một cách bùng nổ. Bên cạnh tiền và tâm lý, yếu tố lãi suất cũng đóng vai trò quan trọng. Việc tăng hay giảm lãi suất của hệ thống tổ chức tín dụng đôi khi còn phát huy tác dụng lên TTCK, vượt trước tác động vào nền kinh tế một thời gian.</p>
<p><strong>Các yếu tố ảnh hưởng dài hạn</strong></p>
<p>Quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, quá trình kinh doanh của các ngành cũng như từng doanh nghiệp, triển vọng sinh lời của chúng là những yếu tố ảnh hưởng tới TTCK trong một khoảng thời gian dài. Thêm vào đó, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hay tình hình chính trị và chính sách tín dụng, tiền tệ cũng rất quan trọng. Hai trạng thái bi quan và lạc quan trong tâm lý công chúng nhà đầu tư cũng là vấn đề cần lưu tâm. Ngoài ra, vấn đề đối nội, đối ngoại, chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước, sự phát triển thị trường bất động sản, thị trường vàng, thị trường tiền tệ,… cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến TTCK.</p>
<p><strong>Lưu ý</strong></p>
<p>Việc phân chia các yếu tố ảnh hưởng theo thời gian chỉ là tương đối, bởi thực tế các yếu tố ảnh hưởng này có thể diễn ra luân phiên nhau, thay thế và xen kẽ nhau nên rất khó biết trước để phán đoán chính xác sự biến động của TTCK. Có thể nhà đầu tư đã tham gia thị trường khá lâu sẽ dần hình thành trực giác cho khả năng quan sát và cảm nhận diễn biến của TTCK.</p>
<p><em>Bộ phân Tư vấn và Phân tích, CTCK Hà Nội (HSSC)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/cac-yeu-to-anh-huong-den-thi-truong-chung-khoan-theo-thoi-gian.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Ai bảo vệ nhà đầu tư, nếu công ty chứng khoán phá sản?</title>
		<link>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/ai-bao-ve-nha-dau-tu-neu-cong-ty-chung-khoan-pha-san.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/ai-bao-ve-nha-dau-tu-neu-cong-ty-chung-khoan-pha-san.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 06 Nov 2008 09:14:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kiến thức chứng khoán]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=237</guid>
		<description><![CDATA[Nếu CTCK phá sản thì ai sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi của NĐT khi tài sản (chứng khoán, tiền) của họ đang ký gửi tại CTCK?
Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam mới đây đã đưa ra con số khiến không ít nhà đầu tư [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nếu CTCK phá sản thì ai sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi của NĐT khi tài sản (chứng khoán, tiền) của họ đang ký gửi tại CTCK?<span id="more-237"></span></p>
<p>Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam mới đây đã đưa ra con số khiến không ít nhà đầu tư (NĐT) giật mình: trong tổng số 98 công ty chứng khoán (CTCK) được cấp phép hoạt động, khoảng 70 - 80% hoạt động cầm cự, phải cắt giảm nhân lực, thu hẹp địa bàn hoạt động.</p>
<p><strong>Bấp bênh tài sản NĐT</strong></p>
<p>Việc CTCK chần chừ chuyển tiền NĐT sang ngân hàng quản lý cho thấy mối lợi quá lớn từ việc &#8220;ghim&#8221; tiền của NĐT lại. Một ngân hàng được xem là đầu mối để các CTCK kết nối cho biết, đến nay mới có hơn chục CTCK chuyển tài khoản NĐT sang ngân hàng quản lý, nhưng việc kết nối chỉ mang tính đối phó.</p>
<p>Nếu Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) mạnh tay, họ sẽ làm triệt để, nếu không họ chỉ chuyển một phần, nhỏ giọt. Như vậy, bất chấp quy định của UBCK về hạn cuối cùng (ngày 1/10/2008) chuyển tiền sang ngân hàng quản lý, nhiều CTCK vẫn không thực hiện.</p>
<p>Về tiền thì như vậy, về chứng khoán thì sao? Bà Phương Hoàng Lan Hương, Giám đốc Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLK) cho biết, Việt Nam hiện áp dụng mô hình lưu ký hai cấp.</p>
<p>Theo mô hình này, NĐT mở tài khoản và lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký (TVLK). Chứng khoán của NĐT sau đó được TVLK tái lưu ký tập trung tại TTLK trên tài khoản lưu ký tổng hợp của TVLK do TTLK mở cho từng TVLK.</p>
<p>Như vậy, TTLK không quản lý thông tin sở hữu chứng khoán chi tiết của từng NĐT, mà chỉ quản lý số dư tổng hợp khách hàng của TVLK. Do vậy, hiện nay chứng khoán của NĐT chỉ được lưu ký thông qua tài khoản tổng của CTCK mở tại TTLK, chứ không trực tiếp đến TTLK.</p>
<p>Rõ ràng, cả chứng khoán và tiền của NĐT đều chưa được quản lý một cách độc lập, minh bạch với tài sản của CTCK. Trong trường hợp rủi ro đến từ việc phá sản của CTCK, tài sản NĐT sẽ được đảm bảo ra sao?</p>
<p><strong>Lỗ hổng</strong></p>
<p>Theo Điều 71, Luật Chứng khoán, CTCK phải &#8220;mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty hoặc trích lập quỹ bảo vệ NĐT để bồi thường thiệt hại cho NĐT do sự cố kỹ thuật và sơ suất của nhân viên trong công ty&#8221;.</p>
<p>Quyết định 27/2007/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động CTCK quy định, khi chấm dứt hoạt động, CTCK phải có &#8220;phương án xử lý các hợp đồng đang còn hiệu lực, trong đó đảm bảo quyền lợi của NĐT&#8221;.</p>
<p>Quy định thì như vậy, nhưng thực tế không có nhiều CTCK mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Điều này có nguyên nhân từ 2 phía. Đối với CTCK, phần lớn chưa nhận thức được đầy đủ về ý nghĩa cũng như không muốn tốn tiền mua bảo hiểm, nên không tham gia.</p>
<p>Phía công ty bảo hiểm cũng chưa mạnh dạn cung cấp dịch vụ này do ngại rủi ro và còn quá mới tại Việt Nam. Năm 2000, Bảo Việt đã có ý định cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các hoạt động trên TTCK Việt Nam.</p>
<p>Dự kiến, có 4 loại hình bảo hiểm được thực hiện, đó là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm giám đốc và viên chức, bảo hiểm tổn thất về tài chính, bảo hiểm tội phạm máy tính và gian lận điện tử. Vì nhiều lý do, đến nay dịch vụ này vẫn chưa được Bảo Việt triển khai.</p>
<p>Vào đầu năm 2007, khi TTCK tăng trưởng nóng, Công ty Bảo hiểm Gras Savoye Willis Vietnam đã triển khai một số sản phẩm bảo hiểm chứng khoán. Doanh nghiệp này giới thiệu 3 nghiệp vụ bảo hiểm.</p>
<p>Thứ nhất là bảo hiểm tổng hợp bảo vệ hoạt động hàng ngày của CTCK như: mất chứng từ trong quá trình vận chuyển, bị mất cắp giấy tờ, tài sản, do bị phá hoại&#8230;</p>
<p>Thứ hai là bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm cho CTCK khi nhân viên của họ làm sai nghiệp vụ, đầu tư không đúng theo yêu cầu của khách hàng, giao dịch không đúng quy định, sử dụng tài khoản của khách hàng để trục lợi, tư vấn sai lệch…</p>
<p>Thứ ba là bảo hiểm dành cho cán bộ điều hành CTCK trước những quyết định đầu tư, quản lý của họ… Theo Gras Savoye Willis Vietnam, nhiều quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam như VinaCapital, Dragon Capital, Mekong Capital, Indochina Capital… đều đã sử dụng loại hình bảo hiểm này, trong khi số lượng CTCK tham gia vẫn quá ít.</p>
<p>Hiện chỉ có 1 CTCK tham gia mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm nói trên được 1 năm, nhưng tới đây CTCK này cũng chấm dứt do điều khoản bảo hiểm quá chặt chẽ. Có những lỗi xảy ra phổ biến thì không được bảo hiểm, trong khi tổn thất được bảo hiểm lại ít khi xảy ra.</p>
<p>Theo giám đốc CTCK này, việc mua bảo hiểm là tự nguyện, vì phần lớn CTCK khác không mua nhưng đến nay cũng không bị xử phạt gì.</p>
<p>Như vậy, mặc dù quy định trong luật đã rõ, CTCK phải mua bảo hiểm nghiệp vụ, nhưng việc không tuân thủ quy định này đang diễn ra phổ biến. Hiện cũng chưa có quy định cụ thể nào nếu CTCK phá sản (nhưng không mua bảo hiểm) làm thất thoát tài sản của NĐT thì sẽ xử lý ra sao?</p>
<p>Cơ quan nào đứng ra bảo vệ NĐT? Đây rõ ràng là một lỗ hổng pháp lý cần sớm khỏa lấp. Về phía NĐT cũng nên tìm đến CTCK tuân thủ pháp luật tốt, tài chính lành mạnh để mở tài khoản giao dịch nhằm tránh rủi ro cho mình.<br />
<em><br />
Theo Đông Hải<br />
ĐTCK</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/ai-bao-ve-nha-dau-tu-neu-cong-ty-chung-khoan-pha-san.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Thuế chứng khoán: Khó cho nhà đầu tư?</title>
		<link>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/thue-chung-khoan-kho-cho-nha-dau-tu.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/thue-chung-khoan-kho-cho-nha-dau-tu.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 06 Nov 2008 04:36:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kiến thức chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Thuế thu nhập]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=235</guid>
		<description><![CDATA[Mặc dù đến ngày 1/1/2009 mới đi vào thực tiễn, nhưng giới đầu tư và bản thân ngành thuế đều thấy những bất cập khi thực thi Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó có thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán. Không ít nhà đầu tư (NĐT) cho rằng, ngành thuế đang [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Mặc dù đến ngày 1/1/2009 mới đi vào thực tiễn, nhưng giới đầu tư và bản thân ngành thuế đều thấy những bất cập khi thực thi Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó có thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán. Không ít nhà đầu tư (NĐT) cho rằng, ngành thuế đang đẩy khó khăn về phía người nộp thuế thay vì tìm những giải pháp phù hợp hơn.<span id="more-235"></span></p>
<p><strong>Bất cập</strong></p>
<p>Nếu nhận cổ tức bằng tiền thì NĐT phải nộp 5%, nhưng cổ tức nhận bằng cổ phiếu thì có phải nộp thuế hay không? Câu trả lời là không rõ ràng ngay cả trong Thông tư 84/2008/TT-BTC, văn bản được xem là cụ thể nhất hướng dẫn việc nộp thuế của NĐT. Về vấn đề này, một chuyên gia về thuế thu nhập cá nhân của Tổng cục Thuế cho biết, về bản chất, đây là thu nhập, tuy nhiên do chưa thực nhận nên NĐT chưa phải nộp thuế, chỉ khi nào NĐT bán số cổ phiếu đó thì cơ quan thuế mới tiến hành thu thuế thu nhập. Câu hỏi đặt ra là cơ quan thuế có thể bóc tách được rõ ràng cổ phiếu nhận từ cổ tức và cổ phiếu không nhận từ cổ tức của NĐT trước hoạt động mua - bán liên tục? Ngành thuế có đủ nhân lực để theo dõi diễn biến giao dịch của NĐT để biết khi nào họ bán ra loại cổ phiếu này và tiến hành thu thuế? Trong khi số DN trả cổ tức bằng cổ phiếu rất phổ biến thì đây là thách thức lớn trong việc đảm bảo công bằng khi thu thuế.</p>
<p>Vấn đề hóc búa nhất hiện nay chính là việc xác định giá mua, giá bán đối với loại cổ phiếu chưa niêm yết tại Sở/TTGDCK và chưa đăng ký giao dịch. Theo quy định, tại Thông tư 84, trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá hoặc giá quá thấp thì cơ quan thuế được quyền ấn định giá chuyển nhượng dựa vào giá trị sổ sách của DN tại thời điểm bán. Câu hỏi đặt ra: giá trị sổ sách tại thời điểm bán là thời điểm hai NĐT chuyển nhượng với nhau hay tại thời điểm DN phát hành (bán) ra cổ phiếu? Mặt khác, giá trị sổ sách của DN thay đổi theo từng thời điểm, không phải lúc nào cũng có thể xác định giá trị DN nếu không phục vụ cho các mục tiêu lớn: niêm yết, phát hành cổ phiếu huy động vốn, liên doanh, liên kết, góp vốn… Đơn cử, một NĐT mua cổ phần Vietcombank (VCB) qua hình thức đấu giá ở mức giá 100.000 đồng/CP. Sau một năm, do thị trường đi xuống, NĐT này bán cổ phiếu VCB với giá 40.000 đồng/CP. Trong trường hợp không đồng ý với mức giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng của NĐT thì cơ quan thuế sẽ dựa vào giá trị sổ sách nào để ấn định mức giá chuyển nhượng? Nếu dựa vào thời điểm IPO VCB thì mức giá chắc chắn sẽ cao hơn nhưng sau 1 năm, khi có nhiều biến động trên thị trường tài chính, giá trị DN của VCB có thể bị suy giảm(?) Và nếu VCB không có báo cáo xác định giá trị DN vào thời điểm này (thời điểm hai NĐT thực hiện giao dịch), cơ quan thuế sẽ căn cứ vào đâu?</p>
<p>Thông qua đầu mối là CTCK, cơ quan thuế sẽ tiến hành khấu trừ tại nguồn 0,1% thuế chuyển nhượng chứng khoán đối với NĐT. Nhưng tới đây, khi UBCK cho phép NĐT mở nhiều tài khoản thì việc quản lý thu thuế sẽ ra sao? Một quan chức của Tổng cục Thuế thừa nhận, đây cũng là khó khăn mà ngành thuế chưa tính đến. Ấy là chưa kể bài toán công nghệ cho việc nhập, kiểm tra đối tượng nộp thuế… cũng đang là thách thức với ngành thuế.</p>
<p><strong>Đẩy khó cho NĐT?</strong></p>
<p>Trong thu thuế từ chuyển nhượng chứng khoán, đây đó các quan chức ngành thuế bày tỏ quan điểm khuyến khích NĐT nộp thuế với thuế suất 0,1% trên mỗi lần giao dịch. Tuy nhiên, đây chính là cách nộp thuế thiệt thòi nhất vì khi lỗ NĐT vẫn phải nộp thuế thu nhập. Điều này vi phạm nguyên tắc tối thượng của chính sách thuế: chỉ thu thuế khi phát sinh thu nhập. Trong khi đó, nếu nộp thuế 20% trên lợi nhuận thu được, NĐT sẽ đối mặt với hai khó khăn: một là, thuế suất cao; hai là, có quá nhiều thủ tục dễ làm nản lòng NĐT. Hơn nữa, họ cũng bị khấu trừ ngay 0,1% trong mỗi lần giao dịch. Đến hết năm (trong vòng 90 ngày đầu năm sau), cơ quan thuế mới quyết toán thuế và hoàn lại nếu NĐT nộp thừa. Vấn đề là số tiền NĐT nộp thừa cũng không được hưởng lãi suất. Với NĐT có giá trị giao dịch lớn, con số này không phải là nhỏ.</p>
<p>Vì sao cơ quan thuế không đánh thuế lũy tiến đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán như đã làm với thu nhập từ tiền công, tiền lương, từ kinh doanh khác? Điều này được giải thích là do thu nhập từ kinh doanh chứng khoán không ổn định, không thuận tiện cho việc đánh thuế lũy tiến. Tuy nhiên, với số lượng NĐT đông đảo hiện nay, không ít người xác định đó là công việc chính thì yêu cầu được tính thuế lũy tiến của NĐT là nguyện vọng chính đáng (thu nhập cao, nộp thuế cao và ngược lại).</p>
<p>Với những bất cập kể trên, không ít NĐT đặt vấn đề nên hoãn thu thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán. Theo một quan chức của Tổng cục Thuế, khả năng hoãn thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán là rất khó, bởi thuế thu nhập cá nhân điều chỉnh rất nhiều đối tượng, trong đó NĐT chứng khoán chỉ là một loại đối tượng. Nếu hoãn với đối tượng này sẽ ảnh hưởng đến các đối tượng khác.</p>
<p>Tuy nhiên, trong bối cảnh TTCK suy giảm nghiêm trọng, kênh huy động vốn của DN bị tê liệt, tâm lý NĐT sa sút do chịu nhiều áp lực, trong đó có nỗi ám ảnh về thuế, nên nguyện vọng hoãn thu thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán của NĐT cá nhân là nguyện vọng chính đáng.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/thue-chung-khoan-kho-cho-nha-dau-tu.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Hàng nghìn tỷ USD bị bốc hơi khỏi phố Wall</title>
		<link>http://nguoidautu.com/tin-tuc/tai-chinh-ngan-hang/hang-nghin-ty-usd-bi-boc-hoi-khoi-pho-wall.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/tin-tuc/tai-chinh-ngan-hang/hang-nghin-ty-usd-bi-boc-hoi-khoi-pho-wall.html#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 26 Oct 2008 17:48:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Tài chính - Ngân hàng]]></category>

		<category><![CDATA[Tài chính]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=233</guid>
		<description><![CDATA[Các ngân hàng trung ương đã và đang bơm hàng trăm tỷ USD vào lưu thông, nhưng hàng nghìn tỷ USD &#8220;biến mất&#8221; khỏi thị trường nhà đất và cổ phiếu. Nhiều người tự hỏi toàn bộ quá trình này diễn ra như thế nào.
Dưới đây là lý giải của chuyên gia kinh tế John [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Các ngân hàng trung ương đã và đang bơm hàng trăm tỷ USD vào lưu thông, nhưng hàng nghìn tỷ USD &#8220;biến mất&#8221; khỏi thị trường nhà đất và cổ phiếu. Nhiều người tự hỏi toàn bộ quá trình này diễn ra như thế nào.<span id="more-233"></span></p>
<p><strong>Dưới đây là lý giải của chuyên gia kinh tế John Sloman thuộc Economics Network.</strong></p>
<p>Tiền gồm 2 thành tố chính. Thứ nhất là tiền mặt (tiền giấy và xu). Tổng số tiền mặt tại Anh là trên 50 tỷ bảng (79,5 tỷ USD), trong đó khoảng 43 tỷ bảng lưu hành ngoài thị trường và 7 tỷ bảng nằm trong các két sắt và ATM. Nhưng tiền mặt chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ lượng tiền của nền kinh tế.</p>
<p>Phần lớn còn lại nằm trong các khoản tiền gửi ngân hàng. Lượng này tại Anh vào khoảng 1.800 tỷ bảng (2.862 tỷ USD). Chức năng chính của tiền là để thanh toán và với những hàng hóa giá trị lớn, người ta không dùng tiền mặt. Khi mua sắm, người tiêu dùng thanh toán qua tài khoản, và sẽ có sự chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác. Lượng tiền khi đó chỉ là một con số về lượng tiền gửi, được ghi lại trên bảng cân đối tài sản.</p>
<p>Ngân hàng không phải là những chiếc két sắt khổng lồ. Nếu khách hàng chi trả 100 USD, ngân hàng không giữ nguyên số tiền đó, và đợi đến lúc họ rút nó ra. Trong thời điểm hoạt động bình thường, chỉ một lượng nhỏ tiền được giữ ở ngân hàng để khách có thể rút.</p>
<p>Phần lớn bảng cân đối tài sản của khách hàng trong tài khoản vẫn nằm tại ngân hàng. Ngay cả khi khách hàng chi tiêu, phần lớn là các khoản tiền được chuyển khoản, chứ không phải giao dịch bằng tiền mặt.</p>
<p>Số tiền các ngân hàng đang nắm giữ được cho các cá nhân khác, các doanh nghiệp và cả các nhà băng khác vay. Khi người đi vay chi tiêu các khoản tiền này, ví dụ như các cửa hàng, thì cửa hàng gửi lại số tiền đó vào ngân hàng. Những khoản tiền gửi này tiếp tục được biến thành các khoản vay mới cho những khách hàng mới. Cứ như vậy, càng ngày càng có thêm nhiều khoản tiền gửi và khoản vay. Các khoản tiền gửi được tính bằng tiền mặt, và cứ thế tiền sinh sôi, song thực chất không có thêm tiền mặt.</p>
<p>Tuy nhiên, các ngân hàng thường rất thận trọng để làm sao giữ đủ tiền mặt để đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, nếu các ngân hàng thiếu thanh khoản, họ đều có thể vay từ ngân hàng trung ương.</p>
<p>Nhưng đây là những gì diễn ra trong thời điểm thị trường ngân hàng diễn biến bình thường. Điều gì sẽ xảy ra nếu người dân lo lắng về việc nhà băng không có đủ tiền mặt, thậm chí không thể duy trì hoạt động? Hậu quả là những gì đã xảy ra với ngân hàng Northern Rock của Anh, khi người gửi tiền lũ lượt đến rút tiền khỏi nhà băng.</p>
<p>Gần đây các ngân hàng trung ương phải cho các ngân hàng thương mại vay những khoản tiền lớn, đồng thời được chính phủ cho phép in lượng tiền mới sao cho đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Nhưng vẫn có hàng nghìn tỷ USD &#8220;bốc hơi&#8221; khỏi phố Wall và các ngân hàng mất hàng trăm tỷ USD. Số tiền khổng lồ đó đã đi đâu?</p>
<p>Thực tế, số tiền vẫn ở đó. Tuy nhiên, giá trị của tiền đã bị xói mòn bởi lạm phát. Nếu tỷ lệ lạm phát từ đầu năm tới nay là 5%, thì 100 USD hôm nay chỉ mua được những gì đáng giá 95 USD vào cuối năm trước, và chỉ mua được một nửa những gì mua được vào 20 năm trước. Đây cũng là lý do người gửi tiết kiệm được trả lãi suất để họ chi tiêu tiết kiệm hơn.</p>
<p>Trong vài năm trước, tình trạng cho vay dưới chuẩn diễn ra tràn lan tại Mỹ, khi ngân hàng cho những người ít có khả năng trả nợ vay. Những khoản vay này chủ yếu được dùng để mua nhà và giá nhà đất đã sụt giảm. Nếu những người mua nhà này có bán đi, họ cũng không lấy lại được đủ tiền.</p>
<p>Với chứng khoán cũng tương tự. Nếu một năm trước bạn bỏ ra 1.400 USD để đầu tư tại Mỹ, đến nay bạn chỉ còn lại dưới 1.000 USD.</p>
<p>Các khoản tiền gửi trong ngân hàng vẫn còn nguyên, nhưng giá trị đã giảm đi nhiều. Tuy nhiên, tình trạng giá trị tài sản giảm sút vàng thúc đẩy việc tạo ra thêm tiền. Nếu các ngân hàng lo ngại về nợ xấu, họ sẽ hạn chế cho vay. Trong bối cảnh khủng hoảng tín dụng, người dân sẽ tiêu dùng ít hơn và họ cũng ít gửi tiền vào ngân hàng hơn. Đến lượt mình, ngân hàng cũng sẽ cho vay ít đi. Cứ như vậy, nền kinh tế sẽ rơi vào suy thoái.</p>
<p>Cuối cùng, tiêu dùng ít hơn và thu hẹp sản xuất sẽ dẫn tới thất nghiệp và sản phẩm của nền kinh tế ít đi. Như vậy, các ngân hàng trung ương lại phải bơm thêm tiền mặt vào lưu thông, và lại làm lạm phát gia tăng.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/tin-tuc/tai-chinh-ngan-hang/hang-nghin-ty-usd-bi-boc-hoi-khoi-pho-wall.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>&#8220;Cuộc chơi&#8221; trên sàn vàng: Khúc mắc vì chưa có luật!</title>
		<link>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-vang/cuoc-choi-tren-san-vang-khuc-mac-vi-chua-co-luat.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-vang/cuoc-choi-tren-san-vang-khuc-mac-vi-chua-co-luat.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 23 Oct 2008 07:02:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Vàng]]></category>

		<category><![CDATA[Sàn vàng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=231</guid>
		<description><![CDATA[Theo quy định của Ngân hàng ACB, khách hàng chỉ cần ký quỹ với ngân hàng ACB một số lượng bằng 7% tổng giá trị giao dịch.
Những tranh cãi xoay quanh các vụ việc xảy ra trên sàn giao dịch vàng Sài Gòn của Ngân hàng ACB đã đặt ra yêu cầu phải có những [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Theo quy định của Ngân hàng ACB, khách hàng chỉ cần ký quỹ với ngân hàng ACB một số lượng bằng 7% tổng giá trị giao dịch.</p>
<p>Những tranh cãi xoay quanh các vụ việc xảy ra trên sàn giao dịch vàng Sài Gòn của Ngân hàng ACB đã đặt ra yêu cầu phải có những quy định của pháp luật để quản lý, đưa hoạt động này đi vào quy củ, minh bạch.<span id="more-231"></span></p>
<p><strong>Mua bán vàng khống hay vàng vật chất?</strong></p>
<p>Theo quy định của Ngân hàng ACB, khách hàng chỉ cần ký quỹ với ngân hàng ACB một số lượng bằng 7% tổng giá trị giao dịch, là được ACB cho vay 93% còn lại để tham gia mua bán trên sàn giao dịch vàng Sài Gòn.</p>
<p>Về vấn đề này, có người, trong đó có cả chuyên gia về tài chính, cho rằng đây là hoạt động mua bán khống.</p>
<p>Nếu vậy thì hoạt động này vi phạm pháp luật, vì đến giờ chưa có quy định cho phép mua bán khống. Ngay cả sàn giao dịch chứng khoán cũng chưa được phép, mặc dù đây là một nghiệp vụ, và nếu áp dụng sẽ tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu.</p>
<p>Trong một văn bản trước đây, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính đã cho rằng sàn vàng là một sòng bạc là ám chỉ hoạt động mua bán vàng ảo này.</p>
<p>Tuy nhiên, theo ông Lý Xuân Hải, Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB, số vàng mua bán là khách hàng vay của Ngân hàng ACB. Theo cách hiểu này, thì việc mua bán ở đây là mua bán vàng vật chất.</p>
<p>Theo ông Hải, Sàn giao dịch vàng Sài Gòn chỉ là một bộ phận kinh doanh vàng của ACB, chứ không phải là pháp nhân mới. Gần đây, trong các buổi làm việc, thay vì gọi là “Sàn giao dịch”, Ngân hàng Á châu đã gọi đó là “Trung tâm”.</p>
<p>“Thực tế đây không phải là sàn giao dịch vàng tài khoản và không phải là Sở giao dịch hàng hóa. Do đó, Trung tâm giao dịch vàng ngân hàng Á châu không phải là đối tượng điều chỉnh của nghị định số 158/2006 của Chính phủ”, Chủ tịch HĐQT ngân hàng Á châu Trần Xuân Giá, nói.</p>
<p><strong>Không bán, vàng vẫn mất!</strong></p>
<p>&#8220;Chúng tôi lâu nay vẫn cứ tưởng đây là sàn giao dịch qua tài khoản&#8221;, một khách hàng cho biết.&#8221;Giờ mới biết là không phải, nhưng việc mua bán vẫn rất giống như là một sàn thật sự. Giờ mới biết nên lo vì không biết rủi ro sẽ như thế nào&#8221;.</p>
<p>Theo quy định của Ngân hàng ACB, khi giá vàng giảm khiến cho giá trị ký quỹ thấp hơn 7%, ngân hàng ACB sẽ yêu cầu khách hàng tiếp tục nộp vào để duy trì đúng tỷ lệ. Khi giá hạ còn từ 4% trở xuống, ACB có quyền bán số ký quỹ này để thu hồi nợ.</p>
<p>Như vậy, có thể hiểu vàng của khách hàng gửi vào là tiền thế chấp. Nếu vàng vay là vàng vật chất, khách hàng có quyền lấy ra để sử dụng, thì rủi ro cho ngân hàng sẽ rất cao, vì tiền (vàng) cho vay gấp tới hơn 13 lần tài sản thế chấp.</p>
<p>Và nếu thực sự đây là vàng vật chất chứ không phải vàng ảo, thì việc giá vàng lên hay xuống vẫn không hề ảnh hưởng đến giá trị ký quỹ, bởi lẽ nếu không giao dịch mua bán thì 100 lượng vàng trong tài khoản vẫn không thay đổi (gồm 7 lượng ký quỹ, 93 lượng vàng vay của ACB). Thế nhưng hiện tại, số vàng ký quỹ phải thường xuyên và liên tục chịu sự điều chỉnh của biến động giá vàng trên thị trường.</p>
<p>&#8220;Điều này chỉ có thể được giải thích khi đây là một sàn vàng giao dịch khớp lệnh liên tục, và số vàng vay không phải là vàng vật chất&#8221;, một nhà đầu tư nêu lên suy nghĩ. &#8220;Nó chỉ là con số giao dịch bằng giấy tờ mà thôi&#8221;.</p>
<p>Sàn vàng chỉ giao dịch vào những thời điểm nhất định trong ngày. Nên vào những giờ sàn vàng không hoạt động, khách hàng không thể nào bán để cắt lỗ, nhưng có thể ngân hàng sẽ bán để thu hồi. Trường hợp này phần thiệt thuộc về khách hàng.</p>
<p><strong>Mất oan không được bồi thường</strong></p>
<p>Gần đây nhất, cuối tháng 6, khi giá vàng lên trên 19 triệu/lượng, khách hàng đặt lệnh bán nhưng không được. Ngân hàng ACB giải thích là do mạng bị nghẽn vì lượng đặt lớn (tuy nhiên khách hàng đặt mua thử thì lại mua được, và khách hàng nghi ngờ tính không minh bạch của sự cố).</p>
<p>Sau đó, ACB đưa ra giải pháp mua cho những tài khoản không bán được, nhưng với mức giá thấp hơn là 18,83 triệu/lượng. Các nhà đầu tư phản đối vì chiều hôm trước họ đã mua với giá 19,1 triệu/lượng. Nhưng vì không có luật nào để căn cứ, nên tranh cãi mãi vẫn không thành.</p>
<p>Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB, trả lời rằng không có quy định nào buộc sàn vàng phải bồi thường. “Chúng tôi sắp sửa gia nhập sàn giao dịch vàng Dubai, và có hỏi về trường hợp này, người ta trả lời rằng không hề có chuyện bồi thường”, ông Kiên nói. “Chuyện trục trặc xảy ra là ngoài ý muốn”.</p>
<p>Tuy nhiên, sẽ trở nên khập khiễng nếu Phó Chủ tịch HĐQT lại lấy quy định của sàn vàng chính hiệu, có nghiệp vụ mua khống bán khống, để vận dụng cho một bộ phận chuyên trách kinh doanh vàng của một ngân hàng.</p>
<p><strong>Cần phải có luật để phân xử và quản lý sàn vàng</strong></p>
<p>Tuy nhiên mọi lập luận của cả hai bên đều trở nên vô nghĩa nếu không có luật để phân xử. Trong khi đó, đến nay, chưa có quy định nào trong luật quản lý hoạt động này.</p>
<p>Có thể thấy rằng tất cả mọi vướng mắc trong giao dịch trên sàn vàng không thể giải quyết được, là do thiếu quy định của luật. Hiện tại, những quy định trên sàn vàng là do chủ sàn đưa ra. Dù bị thiệt, người muốn tham gia phải chấp nhận.</p>
<p>Điều đáng để suy nghĩ là hoạt động này không phải là mới mẻ, hoạt động mua bán vàng theo hình thức này đã một năm qua kể từ sàn vàng đầu tiên là ACB thành lập. Từ đó đến nay đã có 8 sàn vàng nữa đã và sẽ đi vào hoạt động, thế nhưng đến giờ vẫn không có lấy một nội dung nào từ Ngân hàng Nhà nước hay Bộ Tài chính, Bộ Công Thương quy định về vấn đề này.</p>
<p>Đây là nguyện vọng không chỉ là của người mua bán trên sàn, mà của cả những người tổ chức kinh doanh sàn vàng.</p>
<p>“Chúng tôi cũng rất cần điều này”, một lãnh đạo Ngân hàng ACB, nói. “Ai lại không muốn hoạt động kinh doanh của mình được pháp luật bảo vệ”.</p>
<p><em>TheoĐặng Vỹ<br />
Vietnamnet</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-vang/cuoc-choi-tren-san-vang-khuc-mac-vi-chua-co-luat.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Những khúc mắc quanh thuế thu nhập cá nhân với chứng khoán</title>
		<link>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/nhung-khuc-mac-quanh-thue-thu-nhap-ca-nhan-voi-chung-khoan.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/nhung-khuc-mac-quanh-thue-thu-nhap-ca-nhan-voi-chung-khoan.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 23 Oct 2008 06:54:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=229</guid>
		<description><![CDATA[Nhà đầu tư mang tâm lý lo lắng và không mấy lạc quan với hoạt động đầu tư chứng khoán, việc áp dụng thuế thu nhập chứng khoán được dự báo gây tâm lý không tốt cho thị trường.
Thị trường chứng khoán “xôn xao” với việc thuế thu nhập cá nhân sắp sửa được thực [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nhà đầu tư mang tâm lý lo lắng và không mấy lạc quan với hoạt động đầu tư chứng khoán, việc áp dụng thuế thu nhập chứng khoán được dự báo gây tâm lý không tốt cho thị trường.<span id="more-229"></span></p>
<p>Thị trường chứng khoán “xôn xao” với việc thuế thu nhập cá nhân sắp sửa được thực thi, trong khi, một số khúc mắc của nhà đầu tư vẫn chưa tìm được lời giải thích từ thông tư hướng dẫn thi hành luật thuế và nghị định vừa được Bộ Tài chính ban hành cuối tháng 9.</p>
<p>Theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC, lợi tức, cổ tức nhận được từ việc góp vốn cổ phần của nhà đầu tư, thu nhập nhận được từ các khoản lãi trái phiếu, tín phiếu và các giấy tờ có giá khác do các tổ chức trong nước phát hành (kể cả các tổ chức nước ngoài được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam), trừ thu nhập từ lãi trái phiếu do Chính phủ Việt Nam phát hành đều là đối tượng chịu thuế.</p>
<p><strong>Cổ tức chia bằng cổ phiếu: Tính làm sao?</strong></p>
<p>Theo thông tư, thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán bao gồm thu nhập từ việc chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác (theo quy định của Luật Chứng khoán) đều thuộc diện chịu thuế. Mức thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn là 5%.</p>
<p>Việc áp thuế trên cổ tức đã từng gây phản ứng trong giới đầu tư. Mức cổ tức nhà đầu tư thu được đã qua một vòng thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, việc tiếp tục đánh thuế trên cổ tức được nhiều ý kiến nhìn nhận là đánh thuế hai lần.</p>
<p>Thêm vào đó, trong thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện chia cổ tức bằng cổ phiếu. Sau khi nhận cổ tức theo hình thức này, giá trị cổ phiếu đều sụt giảm đáng kể.</p>
<p>Thực chất, việc nhận cổ tức theo hình thức này không mang lại thu nhập cho nhà đầu tư, trong khi, một tiêu chí của thuế thu nhập doanh nghiệp là áp dụng khi phát sinh thu nhập. Do đó, việc áp thuế đối với cổ tức theo hình thức này đã nhận được rất nhiều ý kiến phản đối.</p>
<p><strong>Chuyển nhượng từ thị trường OTC</strong></p>
<p>Các loại cổ phiếu trên thị trường chưa niêm yết được chia thành hai loại để xác định giá mua và giá bán và tính thu nhập chịu thuế. Đối với chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đã thực hiện đăng ký giao dịch tại Trung tâm hoặc Sở giao dịch chứng khoán, giá bán chứng khoán là giá chuyển nhượng thực tế hoặc giá mua thực tế tại sàn niêm yết.</p>
<p>Đối với chứng khoán OTC không thuộc trường hợp trên, giá bán/mua chứng khoán là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán được chuyển nhượng tại thời điểm bán/mua.</p>
<p>Trường hợp giá mua trên hợp đồng ghi cao hơn giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán tại thời điểm mua, giá mua được căn cứ giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán tại thời điểm mua.</p>
<p>Rất nhiều nhà đầu tư đã giao dịch chứng khoán OTC ở thời điểm không có chứng từ chứng minh giá mua và giá bán, hoặc giá mua/bán của nhà đầu tư khác với giá trị sổ sách của đơn vị có chứng khoán được chuyển nhượng.</p>
<p>Do đó, nhiều nhà đầu tư sẽ bị thiệt khi chuyển nhượng cổ phiếu OTC.</p>
<p>Theo giải thích của một quan chức ngành thuế, trong trường hợp này, nếu có chứng từ chứng minh, nhà đầu tư được chấp nhận tính ở mức 20% thu nhập từ chuyển nhượng, nếu không có căn cứ chứng minh, nhà đầu tư phải chịu mức thuế suất 0,1%.</p>
<p>Nhiều nhà đầu tư lướt sóng có xu hướng chọn cách nộp thuế 0,1% khi xác định rằng đây là một mức phí không đáng kể cho hoạt động đầu tư của mình. Tuy nhiên, với cách thuế 20% trên thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, nhà đầu tư chỉ phải đóng thuế khi có lãi.</p>
<p>Nếu nộp theo cách hai, nhà đầu tư vẫn phải tạm nộp 0,1% trên tổng giá trị mỗi lần giao dịch. Đến hết năm, cơ quan thuế sẽ thực hiện việc quyết toán thuế, nếu số thuế phải nộp tính theo cách 20% lớn hơn số thuế đã tạm khấu trừ 0,1% trong năm, hoặc có yêu cầu hoàn thuế hoặc chuyển số thuế nộp thừa vào năm sau.</p>
<p>Nếu thị trường chứng khoán có những bước chuyển biến tốt, đầu tư chứng khoán mang lại lợi nhuận thì con số 0,1% trên giá trị giao dịch hay 20% trên thu nhập từ chuyển nhượng sẽ không đáng kể.</p>
<p>Tuy nhiên, khi nhà đầu tư mang tâm lý lo lắng và không mấy lạc quan với hoạt động đầu tư chứng khoán, thì việc áp dụng thuế thu nhập chứng khoán được dự báo gây tâm lý không tốt cho thị trường.</p>
<p>“Đánh thuế chứng khoán là đúng, vấn đề là cơ quan chức năng cần cân nhắc đến thời điểm áp dụng để tránh ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý nhà đầu tư để hạn chế tình trạng nhiều nhà đầu tư sẽ rút khỏi thị trường. Lúc đó, mục đích của luật thuế có đạt được hay không?”, nhà đầu tư Trung Sơn phát biểu trong buổi hội thảo về thuế thu nhập cá nhân đối với chứng khoán do Công ty Chứng khoán Kim Eng tổ chức gần đây.</p>
<p><em>Theo Lê Hường<br />
VnEconomy</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/tin-tuc/thi-truong-chung-khoan/nhung-khuc-mac-quanh-thue-thu-nhap-ca-nhan-voi-chung-khoan.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Những rủi ro khi đầu tư chứng khoán</title>
		<link>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/nhung-rui-ro-khi-dau-tu-chung-khoan.html</link>
		<comments>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/nhung-rui-ro-khi-dau-tu-chung-khoan.html#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 20 Oct 2008 18:02:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Chứng khoán]]></category>

		<category><![CDATA[Kinh nghiệm chứng khoán]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguoidautu.com/?p=226</guid>
		<description><![CDATA[Kinh tế học rõ là một môn khoa học buồn thảm và có vẻ như các nhà kinh tế chỉ nhăm nhe chỉ cho chúng ta đủ các loại rủi ro.
Chẳng hạn nếu ngày nghỉ, mở một cuốn từ điển về tài chính hoặc lượn một vòng các từ điển trực tuyến trong vòng 5 [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Kinh tế học rõ là một môn khoa học buồn thảm và có vẻ như các nhà kinh tế chỉ nhăm nhe chỉ cho chúng ta đủ các loại rủi ro.</p>
<p>Chẳng hạn nếu ngày nghỉ, mở một cuốn từ điển về tài chính hoặc lượn một vòng các từ điển trực tuyến trong vòng 5 phút thì sơ sơ bạn có thể nhặt được từng này mục từ về rủi ro liên quan đến việc mua cổ phiếu của bạn như dưới đây. Nếu bạn thấy hứng thú, hãy coi đây như một sự giải trí nho nhỏ trong ngày nghỉ.<span id="more-226"></span></p>
<p><strong>Rủi ro phá sản (Bankruptcy risk) </strong></p>
<p>Khi mà một công ty phá sản, mặc nhiên cổ phiếu của công ty đó tụt dốc không phanh và mức thấp nhất có thể là chả còn giá trị gì. Một thống kê vui nhân cuộc khủng hoảng tài chính vừa rồi cho thấy, nêu cách đây 1 năm bạn có 1000 USD, mua cổ phiếu của hãng máy bay Delta Airline thì giờ chúng trị giá 49USD, nếu là của hãng bảo hiểm AIG thì giờ chúng có giá 33 USD, nếu là của ngân hàng Lehman Brothers thì giờ chúng trị giá 1USD. Còn nếu mua bia uống thì đống vỏ lon bia mang bán đồng nát sẽ được khoảng 200USD.</p>
<p><strong>Rủi ro kinh doanh (Business risk) </strong></p>
<p>Cổ phiếu của bạn đương nhiên sẽ tụt mất giá trị nếu tình trạng kinh doanh của công ty không thuận lợi. Khi có những thay đổi trong tình trạng này, công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức.</p>
<p>Rủi ro kinh doanh cũng có hai loại cơ bản: bên ngoài và nội tại. Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty. Mỗi công ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công ty thể hiện qua hiệu quả hoạt động.</p>
<p>Công ty cũng chịu những rủi ro đến từ bên ngoài riêng, phụ thuộc vào các yếu tố môi trường kinh doanh cụ thể, như chi phí tiền vay, sự cắt giảm ngân sách, mức thuế nhập khẩu tăng, sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh.</p>
<p>Doanh số của một số ngành công nghiệp thép, ô tô có xu hướng bám sát chu kỳ kinh doanh trong khi doanh số của một số ngành khác lại có xu hướng đi ngược lại. Các chính sách Nhà nước cũng là một phần của rủi ro bên ngoài, các chính sách tiền tệ và tài khoá có thể làm ảnh hưởng đến thu nhập thông qua tác động về chi phí và nguồn vốn.</p>
<p><strong>Rủi ro thị trường (Market risk) </strong></p>
<p>Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổ, chỉ vì cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm cổ phiếu nói riêng.</p>
<p>Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình. Các nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng đôi khi cũng chẳng do gì cả mà chỉ là vấn đề tâm lý.</p>
<p><strong>Rủi ro lãi suất (Interest rate risk) </strong></p>
<p>Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro không phân tán được khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung.</p>
<p><strong>Rủi ro cơ sở (Basis risk) </strong></p>
<p>Là rủi ro mà các khoản đầu tư bù đắp vị thế trong một chiến lược phòng ngừa rủi ro không thay đổi theo các hướng đối ngược nhau. Mối tương quan không hoàn hảo giữa các khoản đầu tư bù đắp vị thế đã tạo ra các khoản lỗ hoặc lãi tiềm ẩn trong một chiến lược phòng ngừa rủi ro và do đó đã làm gia tăng thêm rủi ro cho vị thế của nhà đầu tư (nhà phòng ngừa rủi ro).</p>
<p><strong>Rủi ro hối đoái (Transfer risk) </strong></p>
<p>Rủi ro thị trường hối đoái khi người nợ nước ngoài không thể chi trả bằng loại tiền tệ (ngoại tệ) theo yêu cầu của chủ nợ.</p>
<p><strong>Rủi ro sức mua (Purchasing power risk) </strong></p>
<p>Rủi ro sức mua đến từ biến động của sức mua của đồng tiền thu được khi đầu tư vào một thị trường chứng khoán. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư. Nếu coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, ta có thể thấy rằng khi một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất một số cơ hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó. Nếu, trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu đó, giá cả hàng hoá dịch vụ tăng, nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua.</p>
<p><strong>Rủi ro tài chính (Financial risk) </strong></p>
<p>Liên quan đến những rủi ro từ cấu trúc vốn của một công ty. Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi phải được thanh toán cho chủ nợ trước khi trả cổ tức cho cổ đông nên nó có tác động lớn đến thu nhập của họ. Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay. Một công ty không vay nợ chút nào sẽ không có rủi ro tài chính.</p>
<p>Bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập đối với cổ phiếu thường. Cụ thể là, việc sử dụng tỷ lệ vay nợ gây những hệ quả quan trọng đối với những người nắm giữ cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức biến động trong thu nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và làm tăng rủi ro của họ.</p>
<p><strong>Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk) </strong></p>
<p>Rủi ro khi ngân hàng phải bán lỗ tài sản để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời. Thí dụ, người gửi tiền yêu cầu có tiền mặt ngay.</p>
<p>Danh sách này có thể còn kéo dài kha khá nữa. Và chúng ta có thể tự nhủ là dù sao thị trường vẫn còn may mắn vì các tay chơi đều chả bao giờ xem từ điển khi quyết định. Nếu không phải thế thì ai biết được thị trường liệu có còn tồn tại.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguoidautu.com/kinh-nghiem-dau-tu/chung-khoan/nhung-rui-ro-khi-dau-tu-chung-khoan.html/feed</wfw:commentRss>
		</item>
	</channel>
</rss>
